facebook skype 19002088

Hotline

1900.2088

Biolife Corp.

Blog

Biểu hiện thiếu kẽm và selen ở trẻ nhỏ

Chán ăn là một trong các biểu hiện trẻ thiếu kẽm (ảnh minh họa)

Thứ bảy, 18 Tháng 8 2012 08:43

(flike) Chán ăn là một trong các biểu hiện trẻ thiếu kẽm (ảnh minh họa) Kẽm và selenium - các vi chất dinh dưỡng quan trọng cần cho duy trì sức khỏe và tình trạng dinh dưỡng của con người.Kẽm tham gia vào các hoạt động của trên 300 enzym trong các phản ứng sinh học quan trọng, trong đ có các enzym tiêu hóa, và đặc biệt là các enzym cần thiết cho sự tổng hợp protein, acid nucleic cũng như sự tổng hợp, bài tiết và hoạt động của nhiều hormon tăng trưởng quan trọng như GH, IGF-1, testosteron, insulin, thymulin. Thiếu kẽm gây ra tình trạng suy giảm tiêu thụ năng lượng nên thường kết hợp với thiếu năng lượng tế bào và nhiều dưỡng chất khác.   Selenium được chính thức công nhận là nguyên tố cần thiết cho sức khỏe con người vào năm 1990. Chức năng chủ yếu của chất khoáng vi lượng này là tham gia vào thành phần của men glutathione peroxidase, men này hoạt động cùng với vitamin E nhằm ngăn ngừa và bảo vệ sự tổn thương màng tế bào bởi các gốc tự do. Nồng độ selenium thấp là yếu tố nguy cơ cao của bệnh ung thư, bệnh tim mạch, bệnh viêm nhiễm và nhiều tình trạng bệnh lý khác gồm cả lão hóa sớm và hình thành đục thủy tinh thể. Biểu hiện lâm sàng khi thiếu kẽm: Thiếu kẽm nhẹ và vừa là tình trạng khá phổ biến. Có thể nhận thấy trên một số biểu hiện cụ thể sau: - Thiếu dinh dưỡng: Chậm tăng trưởng, suy dinh dưỡng nhẹ và vừa, giảm tiết sữa … - Rối loạn tiêu hóa và chuyển hóa: Trẻ có tình trạng suy giảm tiêu thụ năng lượng như chán ăn, giảm bú, không ăn thịt cá, chậm tiêu, táo bón nhẹ; buồn nôn và nôn kéo dài ở trẻ, buồn nôn và nôn (nghén) ở phụ nữ mang thai. - Rối loạn tâm - thần kinh: Rối loạn giấc ngủ,thức giấc nhiều lần trong đêm, khóc đêm kéo dài. Suy nhược thần kinh, rối loạn cảm xúc. Suy yếu hoạt động của não, chậm chạp, hoang tưởng, mất điều hòa lời nói, rối loạn vị giác và khứu giác, khuyết tật, bại não, chậm phát triển... - Suy giảm khả năng miễn dịch: Nhiễm trùng tái diễn ở đường hô hấp (viêm mũi họng, viêm phế quản), viêm đường tiêu hóa, viêm da, viêm niêm mạc. - Tổn thương biểu mô: khô da, viêm da vùng mặt trước hai chi dưới, nám da, bong da, dầy sừng và nứt gót da hai bên, viêm niêm mạc miệng, viêm lưỡi, dị ứng. Loạn dưỡng móng, viêm mé móng, tóc giòn dễ gãy, hói tóc. -  Tổn thương mắt: sợ ánh sáng, mất khả năng thích nghi với bóng tối, mù đêm, quáng gà, khô mắt, loét giác mạc. - Da ngứa ngáy: Các triệu chứng kèm theo là vết thương khó lành và “hạt gạo” trên móng tay. - Thiếu kẽm nặng biểu hiện đặc trưng bởi các tổn thương điển hình: viêm da, dầy sừng, sạm và bong da mặt ngoài hai cẳng chân (vẩy cá), hói, loạn dưỡng móng (móng nhăn, có vệt trắng, chậm mọc), khô mắt. Viêm quanh hậu môn, âm hộ, tiêu chảy. Tăng nhạy cảm đối với bệnh nhiễm trùng, gây ra nhiễm trùng tái diễn. Kích thích thần kinh, rối loạn nhận thức, mắc chứng ngủ lịm, chậm phát triển tâm thần vận động. Chậm phát triển giới tính, giảm năng tuyến sinh dục, ít tinh trùng, bệnh bất lực. Suy dinh dưỡng nặng, chứng lùn... - Các trường hợp tăng nguy cơ thiếu kẽm: Cần bổ sung kẽm vào chế độ ăn cho các trường hợp: tăng nhu cầu về kẽm; giảm tiêu hóa hoặc hấp thụ kẽm; tăng mất kẽm; các bệnh bẩm sinh hoặc mạn tính gây thiếu kẽm. Stress liên tục, tiểu đường, hội chứng Down, bệnh hồng cầu hình liềm, vẩy nến, dị ứng, suy gan, nghiện rượu, xơ gan do rượu, viêm gan cấp, bệnh thận mạn tính, suy tụy, bệnh máu ác tính, nhiễm trùng mạn tính (lao, AIDS). Trẻ khuyết tật kèm thiếu dinh dưỡng như bại não, sụt cân, cơ teo nhão, albumin máu thấp, các bệnh nặng (phẫu thuật, chấn thương); trẻ biếng ăn, suy dinh dưỡng… Biểu hiện lâm sàng khi thiếu selen: - Dễ nhiễm trùng: Đây là triệu chứng xảy ra thường xuyên, khi cơ thể thiếu selen - chất giúp tăng cường khả năng miễn dịch - bảo vệ các tế bào khỏi thương tổn và phòng chống bệnh ung thư. Selen cũng quan trọng đối với khả năng sinh sản của nam giới. - Sắc tố da: Biểu hiện là làm mất sắc tố ở da. - Các trường hợp khác thiếu selen: Thiếu hụt selen trầm trọng có liên quan đến bệnh keshan, một rối loạn tim nặng nề chủ yếu ở trẻ con và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Tuy nhiên những tình trạng thiếu selen trầm trọng như vậy rất hiếm gặp. Thông thường hơn là dạng thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài là nguy cơ ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch, cơ thể nhạy cảm với các tổn thương oxy hóa chính, thay đổi trong hoạt động của các loại enzym, thay đổi cấu trúc sinh học và tăng nồng độ glutathione (Levander and Burk, 1996). Keshan là một bệnh địa phương, ảnh hưởng chủ yếu đến trẻ em và phụ nữ ở độ tuổi sinh đẻ tại một số vùng của Trung Quốc. Bệnh được biết đến qua các triệu chứng có liên quan tới cơ tim (cardiomyopathy), các sốc tim (cardiogenic shock) hoặc/và giảm lượng máu đến tim, cùng với tình trạng chết cục bộ của các mô tim (Ge và Yang, 1993). Nếu dựa vào đặc điểm lâm sàng, tùy thuộc vào mức độ nguy cấp của bệnh có thể chia thành bốn thể là: cấp tính, bán cấp, mạn tính và tiềm ẩn (IOM, 2000). Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm Phó Viện trưởng, Viện dinh dưỡng Quốc gia Công nghệ Bioenrich giúp tăng hàng nghìn lần hàm lượng khoáng vi lượng như kẽm, selen, sắt, … trong mầm các loại đỗ. Gần đây, Công ty CP Biolife đã cho ra đời sản phẩm UpKid từ công nghệ Bioenrich (www.biolife.vn) điều khiển quá trình nảy mầm của hạt đỗ xanh giúp chuyển hóa với hiệu suất tối đa khoáng chất vi lượng kẽm và selen vô cơ sang cấu trúc hữu cơ tự nhiên thân thiện với cơ thể của trẻ nhỏ, tăng khả năng hấp thu hoàn toàn tới 90%, không để lại dư thừa trong cơ thể. {fcomment}

Bé được 5,7kg lúc 3 tháng 18 ngày có nguy cơ bị SDD không?

Thứ năm, 16 Tháng 8 2012 20:16

Câu hỏi: Tôi xin nhờ các chuyên gia tư vấn giúp tôi với.. Tôi có 1 cháu được 4 tháng 7 ngày tuổi, lúc 3tháng 18 ngày cháu được 5,7kg. Hiện tại tôi đã cho cháu ăn dặm bột ngày 1lần chỉ được có 30ml, cháu không chịu bú sữa công thức và chỉ bú mẹ hoàn toàn, tôi ko có nhiều sữa, bé đang rất kén bú và ăn rất ít, nếu tình trạng này kéo dài tôi sợ bé sẽ bị SDD. Tôi xin các chuyên gia hãy tư vấn giúp tôi để cháu có thể bú nhiều hơn. Xin chân thành cảm ơn.

Đọc thêm...

Tư vấn Dinh dưỡng

Thứ hai, 13 Tháng 8 2012 14:56

Bạn hỏi, bác sỹ trả lời Các yêu cầu tư vấn của bạn được các Chuyên gia Dinh dưỡng từ Viện Dinh Dưỡng Quốc gia trả lời. Các tư vấn dinh dưỡng từ các bác sỹ sẽ được gửi cho bạn qua Email hoặc Điện thoại mà bạn đăng ký  Các tư vấn từ các Chuyên gia Dinh dưỡng là hoàn toàn miễn phí. {ckform tuvandinhduong}

Trẻ thiếu kẽm dễ mắc tự kỷ

biolife. tre hoc kem

Thứ sáu, 10 Tháng 8 2012 22:06

Khẩu phần ăn không đủ kẽm là một trong những nguyên nhân khiến trẻ có nguy cơ cao mắc hội chứng tự kỷ, đây là kết quả của một nghiên cứu của Nhật Bản, sau khi tìm thấy số lượng lớn các trẻ mắc tự kỷ và những bệnh liên quan như hội chứng Asperger đều thiếu vi chất này. 

Đọc thêm...

Một số thực phẩm giàu chất kẽm

cu-cai-01

Thứ sáu, 03 Tháng 8 2012 10:23

{flike} Chất kẽm giúp tăng hấp thu, tổng hợp chất đạm, phân chia tế bào, tăng cảm giác ngon miệng nên rất quan trọng đối với trẻ em. Trẻ nhũ nhi, trẻ nhỏ, vị thành niên và phụ nữ mang thai rất dễ bị thiếu kẽm do nhu cầu tăng cao. Thiếu kẽm ở phụ nữ mang thai làm giảm cân nặng và chiều cao trẻ sơ sinh. Nhiều nghiên cứu cho thấy việc bổ sung kẽm giúp cải thiện chiều cao đối với trẻ thấp lùn và tăng cân nhanh ở trẻ suy dinh dưỡng. Sau đây là thống kê một số thực phẩm hàng ngày giàu chất kẽm. (Hàm lượng Kẽm trong 100g thực phẩm ăn được) Tên thực phẩm Kẽm (mg) Tên thực phẩm Kẽm (mg) 1. Sò 13.4 10. Ổi 2.4 2. Củ cải 11.0 11. Nếp 2.2 3. Cùi dừa già 5.0 12. Thịt bò 2.2 4. Đậu Hà Lan (hạt) 4.0 13. Khoai lang 2.0 5. Đậu nành 3.8 14. Đậu phộng 1.9 6. Lòng đỏ trứng gà 3.7 15. Gạo 1.5 7. Thịt cừu 2.9 16. Kê 1.5 8. Bột mì 2.5 17. Thịt gà ta 1.5 9. Thịt heo nạc 2.5 18. Rau om 1.48 Nguồn: DinhDuong.com {fcomment}

Tăng sức đề kháng trong mùa đông cho bé bằng thực phẩm

cho-be-an-suplo-1

Thứ năm, 02 Tháng 8 2012 10:51

{flike} Vào mùa đông, cơ thể bé rất dễ bị ốm do các nguyên nhân: Viêm họng, cơ thể bị nhiễm lạnh, ho… Bên cạnh các biện pháp như giữ ấm cho trẻ, hạn chế cho trẻ ra ngoài trời lạnh…các bà mẹ có thể tăng cường sức đề kháng cho con bằng thực phẩm. Súp lơ Súp lơ trắng cùng họ với súp lơ xanh là loại rau có chưa chất phytochemical nổi tiếng được cho là giúp ngăn ngừa ung thư siêu việt. Súp lơ rất giàu Vitamin A, Vitamin C và canxi. Thêm súp lơ vào chế độ ăn dặm của bé sẽ giúp bé có sức đề kháng mạnh trong mùa đông. Dinh dưỡng trong súp lơ: Vitamin: Vitamin A - 175 IU, Vitamin C - 90 mg, Niacin - 0,8 mg, Folate - 51 mcg, Thiamin - 0,8 mg, Acid pantothenic - 0,8 mg, Vitamin B6 - 0,25 mg. Khoáng chất:  Kali - 354 mg, Sodium - 29 mg, Canxi - 40 mg, Photpho - 71 mg, Magiê - 24 mg, Sắt - 0,89 mg. Ngoài ra có chứa một lượng nhỏ selen, đồng, mangan, kẽm. Bé từ 8 tháng đã có thể ăn thức ăn thô nên mẹ có thể nghiền qua súp lơ rồi nấu cùng cháo, bột cho bé. Hấp súp lơ sẽ giúp bảo toàn chất dinh dưỡng nhất. Mẹ cũng có thể dùng hoa súp lơ làm bánh nướng cho bé cũng rất tuyệt. Với bé đang ăn bốc, mẹ sắt súp lơ thành những bông nhỏ rồi luộc, hấp súp lơ chín mềm cho bé tự ăn. Củ cải Củ cải giàu vitamin C, canxi, một ít chất xơ và protein. Cũng giống như một số loại rau củ khác, củ cải chứa chất ngọt tự nhiên, giúp bé ngon miệng và tăng cường sức đề kháng. Theo y dược học hiện đại, cứ 100g củ cải có: nước 93,5g, protein 0,06g, chất béo 0,1g, đường tổng số 5,3g chủ yếu là các loại đường dễ hấp thụ (glucose, fructose); những chất khoáng cần cho cơ thể như canxi 32mg, photpho 21mg, sắt 0,6mg, mangan 0,41mg, bromine 7mg...; các vitamin nhóm B như B1 0,02mg, B2 0,03mg, niacin 0,3mg, vitamin C 25mg và nhiều loại axit amin. Cách chọn củ cải ngon là loại không bị đổi màu khi bị cắt làm đôi và cũng không xuất hiện vết bầm rập trên bề mặt. Nên bảo quản củ cải ở nơi thoáng mát trong phòng hoặc trong ngăn mát tủ lạnh. Chỉ nên cắt củ cải trước khi chế biến nó. Với củ cải đã được gọt vỏ, thái lát, bạn nên để chúng trong một bát nước lọc, đặt vào ngăn mát tủ lạnh. Thời gian an toàn không quá 2 ngày. Khoai tây Khoai tây giàu tinh bột, vitamin A, C và kali. Một củ khoai tây hấp chứa đến 252 kalo.Do khoai tây nhiều tinh bột, ít các chất dinh dưỡng khác nên các chuyên gia khuyến cáo, cha mẹ nên cho bé ăn khoai tây khi bé được khoảng 8 tháng tuổi. Thời điểm này, bé cần nhiều carbonhydrat để phát triển. Nên chọn loại khoai có vỏ màu vàng nâu nhạt. So với loại khoai vỏ trắng, loại khoai này mịn và bở hơn khi được hấp chín và dầm nhuyễn. Đảm bảo rằng khoai không mọc mầm hoặc có những đốm xanh. Cách bảo quản khoai tốt nhất là để khoai ở nơi khô, mát, tránh ánh nắng mặt trời. Tránh dự trữ khoai tây trong ngăn đá. Cũng không nên để khoai ở khu vực ẩm ướt vì như thế, nó sẽ dễ mọc mầm. Đu Đủ Đu đủ là một loại trái cây rất bổ dưỡng. Chúng chứa một lượng cao vitamin C (giúp hấp thụ chất sắt), Vitamin A (2.516 IU), Vitamin E. Đu đủ cũng là một nguồn cung cấp chất xơ và acid folic. Ăn đu đủ giúp trẻ sáng mắt, phòng táo bón vô vùng hiệu quả.Dinh dưỡng trong đu đủ: Vitamin: Vitamin A - 2516 IU, Vitamin C - 142 mg, Vitamin B1 (thiamine) - 0,06 mg, Vitamin B2 (riboflavin) - 0,07 mg, Niacin - 0,77 mg, Folate - 87 mcg. Chất khoáng: Kali - 591 mg, Photpho - 12 mg, Magnesium - 6,9 mg, Canxi - 55 mg, Sắt - 0,23 mg. Ngoài ra có chứa hàm lượng mangan, kẽm và đồng. Nước ép lựu Lựu là loại quả nguy hiểm với bé trong độ tuổi ăn dặm. Nó có nguy cơ gây hóc vì phần thịt được bao quanh một chiếc hạt rất cứng. Tuy nhiên, bạn có thể cho bé làm quen với nước ép lựu khi bé được khoảng 8-10 tháng tuổi. Lựu được mua về, tách lấy hạt, cho vào máy ép hoa quả. Hạt lựu nếu có bị ép vỡ ra cũng không độc, trái lại, nó còn tốt cho sức khỏe của bé. Một số nghiên cứu cho thấy, dầu hạt quả lựu có tác dụng ngăn ngừa ung thư da. Nước ép lựu giàu vitamin B, C, canxi và phốt pho. Lựu chứa nhiều chất chống oxy hóa, giúp bé khỏe mạnh, ngăn ngừa các chứng bệnh về tim mạch. Ngoài ra, bạn cũng nên chú ý một số điểm sau: Nên pha loãng nước ép lựu với chút nước đun sôi để nguội. Nên cho bé dùng nước ép lựu ngay sau khi chế biến. Nên cho bé uống với một lượng nhỏ rồi tăng dần lên. Nước lựu có thể được kết hợp với khoai lang dầm nhuyễn, chuối chín được dầm nhuyễn. Minh Thúy {fcomment}

Kẽm đối với phụ nữ mang thai và cho con bú

ba_bau

Thứ năm, 02 Tháng 8 2012 10:25

{flike} Kẽm đóng vai trò sinh học không thể thiếu đối với sức khỏe con người, cho dù kẽm chỉ chiếm khoảng vài phần triệu trọng lượng khô của cơ thể. Kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym khác nhau, được xem như chất xúc tác không thể thiếu của ARN polymerase trong quá trình nhân bản ADN. Đây là chức năng quan trọng giúp kích thích tăng trưởng ở trẻ em, kẽm vừa là cấu trúc vừa tham gia vào duy trì chức năng của hàng loạt các cơ quan quan trọng. Kẽm có độ tập trung cao trong não, nếu thiếu kẽm ở các cấu trúc thần kinh có thể dẫn đến nhiều rối loạn thần kinh. Vai trò hết sức quan trọng nữa của kẽm là tham gia điều hòa chức năng của hệ thống nội tiết và có trong thành phần các hoóc môn (tuyến yên, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục...). Hệ thống này có vai trò quan trọng trong việc phối hợp hệ thống thần kinh trung ương, điều hòa hoạt động sống trong và ngoài cơ thể. Kẽm còn là chất chống oxy hóa, chống lại các tổn thương do nhiễm trùng và nhiễm các độc tố, làm mau lành vết thương bảo vệ làn da, phòng chống ung thư và chống lão hóa, duy trì hoạt động bình thường của chức năng tình dục. Như vậy kẽm có vai trò quan trọng với tất cả mọi người, nhưng đối với phụ nữ có thai và cho con bú kẽm lại càng quan trọng hơn. Kẽm duy trì tổng hợp protein cho cơ thể, giúp phân chia, sinh trưởng và tái sinh tế bào một cách bình thường giúp bào thai tăng trưởng và phát triển.Việc thiếu kẽm ở bà mẹ mang thai không những ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ mà còn ảnh hưởng rất nhiều đến thai nhi. Khi thiếu kẽm, bà mẹ mang thai nghén nhiều hơn với các biểu hiện buồn nôn, nôn, chán ăn, mệt mỏi, dự trữ năng lượng tạo sữa sau này sẽ thấp. Từ đó bà mẹ dễ sảy thai, đẻ non, tai biến sản khoa khi sinh, thiếu sữa, mất sữa nuôi con sau sinh. Ảnh hưởng đến thai nhi: thai chậm phát triển dẫn đến bị suy dinh dưỡng bào thai: thai nhi nhẹ cân và thấp chiều cao, thai dễ bị dị dạng. Trong giai đoạn nuôi con bú, nếu thiếu kẽm bà mẹ ăn uống kém, mệt mỏi, giảm khả năng miễn dịch, rối loạn giấc ngủ dẫn đến thiếu sữa, mất sữa đây cũng là nguyên nhân dẫn đến suy dinh dưỡng của trẻ em. Phụ nữ có thai và cho con bú là một trong những đối tượng tăng nhu cầu về kẽm nhưng lại không được đáp ứng. Tình trạng nghén ở bà mẹ làm cho việc ăn uống không được đầy đủ dẫn đến thiếu kẽm, khi thiếu kẽm lại làm tình trạng nghén tăng lên cứ như vậy đã tạo thành một vòng xoắn bệnh lý rất khó gỡ ra được. Vậy để tránh tình trạng thiếu kẽm trong thời kỳ mang thai và cho con bú các bà mẹ phải ăn các thực phẩm giàu kẽm từ trước khi mang thai 2-3 tháng cũng như suốt thời kỳ mang thai và nuôi con bú. Sau đây là những thực phẩm giàu kẽm mà chúng ta cần biết để chọn ăn hàng ngày: Hàm lượng kẽm trong 100g thực phẩm Như vậy các loại thực phẩm giàu kẽm nhất đó là các loài thủy hải sản, thịt cóc, gan động vật, trứng, thịt nạc... Kẽm từ các thực phẩm này có giá trị sinh học cao hơn so với kẽm có nguồn gốc thực vật, và khả năng hấp thu cũng cao hơn. Ngoài ra, khi mang thai và cho con bú, các bà mẹ có thể ăn thêm các thực phẩm tăng cường kẽm như bánh quy, bột dinh dưỡng... Cũng như sắt, muốn hấp thu kẽm tốt trong khẩu phần ăn phải đầy đủ hàm lượng protein có nguồn gốc động vật. Kẽm được đưa vào trong cơ thể chủ yếu qua đường tiêu hóa, được hấp thu phần lớn ở ruột non, cho nên những người có bệnh ở đường tiêu hóa thường bị thiếu kẽm. Kẽm được thải ra ngoài qua dịch ruột, dịch tụy (thải qua phân), thải qua nước tiểu, qua mồ hôi. Khi vào cơ thể kẽm phần lớn tập trung trong tế bào, chỉ một lượng nhỏ trong huyết tương dạng gắn kết với albumin. Trong những trường hợp do nghén nặng hoặc do ăn uống kém hoặc có những dấu hiệu lâm sàng của thiếu kẽm: chán ăn, mệt mỏi, rụng tóc, tóc dễ gãy ,da khô, bong da, trên móng tay xuất hiện các vệt trắng, móng chân tay chậm mọc và dễ gãy, rối loạn giấc ngủ (ngủ không ngon giấc) hay bị nhiễm trùng đường hô hấp và tiêu hóa, vết thương lâu liền, hoặc những người thường xuyên bị rối loạn tiêu hóa hoặc định lượng nồng độ kẽm trong huyết thanh thấp thì cần phải bổ sung kẽm dưới dạng thuốc. Liều bổ sung từ 15-20mg kẽm nguyên tố/ngày, tối đa là 50mg/ngày. Nên uống đều đặn vào một giờ nhất định , nên uống cách xa các thuốc có chứa sắt, canxi để tránh tương tác cạnh tranh hấp thu, nên uống 1 giờ trước khi ăn hoặc 2 giờ sau khi ăn. Trong những trường hợp hay nôn có thể uống cùng với thức ăn, hoặc uống vào buổi tối trước khi đi ngủ. Theo BS Lê Thị Hải / Tin Tức online {fcomment}

Biếng ăn, suy giảm miễn dịch do thiếu kẽm và selen

tre

Thứ năm, 02 Tháng 8 2012 09:59

{flike}Thiếu kẽm và selen sẽ gây biếng ăn do rối loạn vi giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ. Tình trạng thiếu kẽm và selen ở trẻ em đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Theo đó, trên 50% trẻ từ 6 tháng đến 7 tuổi thiếu kẽm huyết thanh và selen tương đối. Nhóm gặp nguy cơ cao nhất là các bé từ 6 tháng đến 17 tháng tuổi và trẻ gặp vấn đề về suy dinh dưỡng, tiêu chảy. Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra những con số báo động khi hàm lượng selen huyết thanh thấp ở học sinh THCS là 15,9%, học sinh tiểu học là 75,6%, và trẻ mẫu giáo, mầm non 62,3%. Các nghiên cứu chỉ ra rằng: 26,5% trẻ từ 11 đến 17 tuổi thiếu kẽm; 50%-90% trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài thiếu kẽm; 51,9% trẻ từ 6 tháng đến 75 tháng tuổi thiếu kẽm; 15,9% trẻ em từ 11 đến 17 tuổi thiếu Selen; 75,6% trẻ em cấp 1 thiếu Selen; 62,3% trẻ em từ 12 đến 72 tháng tuổi ở nông thôn thiếu Selen. Kẽm giúp duy trì, bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác. Vì thế thiếu kẽm sẽ gây biếng ăn do rối loạn vi giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ. Kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym kim loại. Nó còn là chất xúc tác không thể thiếu của ARN-polymeraza, có vai trò quan trọng trong quá trình nhân đôi AND, tổng hợp protein, thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp và điều hòa chức năng của trục hormone dưới đồi như GH (Growth hormone), IGF-I - những hormone tăng trưởng và kích thích tăng trưởng. Selen cần cho chuyển hóa i-ốt và có chức năng như một loại enzyme trong quá trình tạo hormone tuyến giáp nhằm kích thích đầu vào năng lượng, cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì. Thiếu kẽm làm tổn thương chức năng miễn dịch, tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, từ đó khiến trẻ giảm phát triển, tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong. Trong một nghiên cứu tại Mỹ, việc bổ sung kẽm cho trẻ giúp giảm 18% trường hợp tiêu chảy, 41% viêm phổi và trên 50% trường hợp tử vong. Thiếu Selen gây ức chế khả năng đề kháng chống nhiễm trùng, hậu quả của suy giảm chức năng bạch cầu và tuyến ức bởi selen đóng vai trò thiết yếu trong men Glutathione peroxidase. Nó ảnh hưởng tới mọi thành phần của hệ miễn dịch, sự phát triển và hoạt động của bạch cầu. Thiếu kẽm, dấu hiệu thường thấy là ăn không ngon, vị giác bất thường, rụng tóc, tiêu chảy kéo dài, thương tổn ở da và mắt, chậm lớn, cơ quan sinh dục chậm trưởng thành, sụt cân, thiếu máu, chậm lành vết thương và kém minh mẫn. Thiếu selen ở mức trầm trọng có liên quan đến bệnh Keshan, một bệnh loạn ở tim và tổn thương cơ tim nặng nề. Bệnh xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ; thiếu ở mức độ nhẹ thường khó thấy các triệu chứng đặc biệt. Tuy nhiên, nó góp phần làm xuất hiện các tổn hại tế bào quan trọng cũng như thúc đẩy quá trình lão hóa và nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa. Đặc biệt, việc thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài khiến người lớn và trẻ nhỏ có nguy cơ bị ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch. Trẻ em rất cần bổ sung kẽm và selen. Theo khuyến nghị, bé dưới một tuổi nên được bổ sung khoảng 5 mg một ngày; trẻ 1-10 tuổi khoảng 10 mg một ngày; thanh thiếu niên và người trưởng thành khoảng 15 mg một ngày đối với nam và 12 mg một ngày đối với nữ. Ngoài ra, trẻ 0-6 tháng có nhu cầu selen là 6 mcg một ngày; trẻ 7-12 tháng là 10 mcg một ngày; trẻ 1-3 tuổi là 17 mcg một ngày; trẻ 4-9 tuổi khoảng 20 mcg một ngày; đối với thanh thiếu niên 10-18 tuổi nhu cầu là 26 mcg một ngày ở nữ và 32 mcg một ngày ở nam. Nguồn cung cấp kẽm và selen cho cơ thể có trong nhiều loại thực phẩm. Trong đó, thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng..). Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, bạn nên cố gắng cho bé bú mẹ vì chất này trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò. Lượng kẽm trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên là cao nhất (2-3 mg/lít), sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9 mg/lít. Lượng kẽm mà người mẹ mất qua sữa trong 3 tháng đầu ước tính khoảng 1,4 mg một ngày. Do đó, bạn cần ăn nhiều thực phẩm giàu chất này để có đủ cho cả hai mẹ con. Ngoài kẽ, hàm lượng selen cũng có nhiều trong cá, hải sản (20,8 - 40,5 mcg/100 gram) và trứng (40,2 mcg-14,9 mcg/100 gram), vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả. Phó giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Thị LâmPhó Viện trưởng, Viện dinh dưỡng Quốc gia {fcomment}

Con số báo động thiếu kẽm và Selen ở trẻ Việt

33ebieng-an-o-tre

Thứ bảy, 28 Tháng 7 2012 08:34

{flike} Con số điều tra tại Việt Nam đáng báo động có trên 50% trẻ từ 6 tháng đến 7 tuổi thiếu kẽm huyết thanh và Selen tương đối. Hãy đến với chuyên mục Làm mẹ của Eva để hiểu hơn những điều Người mẹ cần biết , cách Chăm sóc trẻ sơ sinh, Chọn đồ chơi cho bé, Kinh nghiệm của mẹ, cách Dạy con tuổi dậy thì hay mẹTây dạy con và chia sẻ cảm xúc trong Tâm sự người mẹ bạn nhé! Những con số điều tra tại Việt Nam Các nghiên cứu chỉ ra rằng: 26,5% trẻ từ 11-17 tuổi thiếu thiếu kẽm 50%-90% trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài thiếu kẽm. 51,9% trẻ từ 6 tháng đến 75 tháng tuổi thiếu kẽm 15,9% trẻ em từ 11-17 tuổi thiếu selen 75,6% trẻ em cấp 1 thiếu selen 62,3% trẻ em từ 12-72 tháng tuổi ở nông thôn thiếu selen Tình trạng thiếu Kẽm và Selen ở trẻ em đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Con số điều tra tại Việt Nam đáng báo động có trên 50% trẻ từ 6 tháng đến 7 tuổi thiếu Kẽm huyết thanh và Selen tương đối, trong đó nhóm gặp nguy cơ cao nhất là nhóm trẻ từ 6 tháng đến 17 tháng tuổi và nhóm trẻ gặp vấn đề về suy dinh dưỡng và tiêu chảy. Trong một số nghiên cứu khác cũng có những con số báo động khi hàm lượng Selen huyết thanh thấp ở học sinh THCS là 15,9%, học sinh tiểu học là 75,6%, và trẻ mẫu giáo, mầm non là 62,3%. Kẽm và Selen đối với tăng trưởng và miễn dịch Đối với tăng trưởng Kẽm giúp duy trì và bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác. Vì thế thiếu kẽm sẽ gây biếng ăn do rối loạn vi giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ. Kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym kim loại. Là chất xúc tác không thể thiếu được của ARN-polymeraza, có vai trò quan trọng trong quá trình nhân đôi AND, tổng hợp protein, thúc đẩy quá trình sinh tổng hợp và điều hòa chức năng của trục hormone dưới đồi như GH (Growth hormone), IGF-I là những hormone tăng trưởng và kích thích tăng trưởng. Selen cần cho chuyển hóa i-ốt và có chức năng như một loại enzyme trong quá trình tạo hormone tuyến giáp nhằm kích thích đầu vào năng lượng, cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì. Đối với miễn dịch Thiếu kẽm làm tổn thương chức năng miễn dịch, làm tăng nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn, từ đó làm giảm tăng trưởng, phát triển của trẻ, làm tăng nguy cơ bị suy dinh dưỡng và tử vong ở trẻ. Bổ sung kẽm cho trẻ trong một nghiên cứu tại Mỹ cho thấy giúp làm giảm 18% trường hợp tiêu chảy, 41% trường hợp viêm phổi và làm giảm tỷ lệ tử vong trên 50%. Thiếu Selen gây ức chế khả năng đề kháng chống nhiễm trùng, hậu quả của suy giảm chức năng bạch cầu và tuyến ức bởi Selen đóng vai trò thiết yếu trong men Glutathione peroxidase ảnh hưởng tới mọi thành phần của hệ miễn dịch, không loại trứ sự phát triển và hoạt động của bạch cầu. Dấu hiệu của thiếu Kẽm và Selen Thiếu kẽm, dấu hiệu thường thấy là ăn không ngon, vị giác bất thường, rụng tóc, tiêu chảy kéo dài, thương tổn ở da và mắt, chậm lớn, cơ quan sinh dục chậm trưởng thành, sụt cân, thiếu máu, chậm lành vết thương và kém minh mẫn. Thiếu selen ở mức trầm trọng có liên quan đến bệnh Keshan, một bệnh loạn ở tim và tổn thương cơ tim nặng nề, bênh xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Thiếu selen mức độ nhẹ thường khó thấy các triệu chứng đặc biệt, tuy nhiên nó góp phần làm xuất hiện các tổn hại tế bào quan trọng cũng như thúc đẩy quá trình lão hóa và nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa. Thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài có nguy cơ ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch. Nhu cầu Kẽm và Selen khuyến nghị cho trẻ em Việt Nam Kẽm ở trẻ dưới 1 tuổi vào khoảng 5m/ngày, ở trẻ 1-10 tuổi khoảng 10mg/ngày, thanh thiếu niên và người trưởng thành khoảng 15mg/ngày đối với nam và 12mg/ngày đối với nữ. Trẻ 0-6 tháng nhu cầu selen là 6 mcg/ngày, trẻ 7-12 tháng là 10 mcg/ngày, trẻ 1-3 tuổi là 17 mcg/ngày, trẻ 4-9 tuổi khoảng 20 mcg/ngày, đối với thanh thiếu niên 10-18 tuổi nhu cầu là 26 mcg/ngày ở nữ và 32 mcg/ngày ở nam (Nguồn: FAO/WHO (2002 và 2004)) Nguồn cung cấp Kẽm và Selen cho cơ thể Thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng..). Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò. Lượng kẽm trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên là cao nhất (2-3 mg/lít), sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9mg/l. Lượng kẽm mà người mẹ mất qua sữa trong 3 tháng đầu ước tính khoảng 1,4 mg/ngày. Do đó, người mẹ cần ăn nhiều thực phẩm giàu kẽm để có đủ cho cả hai mẹ con. Hàm lượng Selen cao trong cá, hải sản (20,8 - 40,5 đến mcg/100g) và trứng (40,2 mcg đến 14,9 mcg/100g), vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả. Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu thành công công nghệ Bioenrich tăng hàng nghìn lần hàm lượng khoáng vi lượng như Kẽm, Selen, Sắt, … trong mầm các loại đỗ. Với các thành tựu của khoa học và công nghệ, con người ngày càng chủ động hơn với các nguồn bổ sung khoáng vi lượng tự nhiên cần thiết hàng ngày. Gần đây nhất của Công ty CP Biolife đã cho ra đời sản phẩm UpKid từ công nghệ Bioenrich (www.biolife.vn) điều khiển quá trình nảy mầm của hạt đỗ xanh giúp chuyển hóa với hiệu suất tối đa khoáng chất vi lượng Kẽm và Selen vô cơ sang cấu trúc hữu cơ tự nhiên thân thiện với cơ thể của trẻ nhỏ, tăng khả năng hấp thu hoàn toàn tới 90%, không để lại dư thừa trong cơ thể. PGS. TS. Nguyễn Thị Lâm Phó Viện trưởng – Viện dinh dưỡng Quốc gia {fcomment}

Tôi có thể mua UpKid ở đâu?

Thứ sáu, 27 Tháng 7 2012 21:08

    Được biết đến cốm Upkid rất có hiệu quả dành cho bé biếng ăn như:  - Tăng cảm khả năng cảm nhận mùi vị ở trẻ, kích thích trẻ thèm ăn.- Kích thích hấp thụ dinh dưỡng, tăng sức đề kháng của trẻ.- Sản phẩm nguồn gốc tự nhiên, không để lại dư thừa trong cơ thể. Nhưng tôi không biết mua sản phẩm ở đâu, các nhà thuốc tân dược thông thường có bán không?

Đọc thêm...

Mẹ phải làm gì khi bé biếng ăn?

H13_e1b6a

Thứ hai, 23 Tháng 7 2012 10:16

{flike}Đừng căng thẳng và đừng làm nghiêm trọng mọi chuyện! Biếng ăn chỉ là một tình trạng rất phổ biến ở trẻ em trong giai đoạn từ 1-6 tuổi. Chăm sóc cho bé bằng chế độ ăn uống phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng; áp dụng các “bí kíp” về tâm lý hiệu quả, bạn sẽ dễ dàng giúp thiên thần bé bỏng của mình vượt qua giai đoạn biếng ăn. 1. Chỉ gợi ý bé ăn khi… bé đói! Nếu bạn kè kè tô cơm hoặc chén bột bên mình, bất cứ lúc nào cũng lăm le… ép cục cưng “ăn thêm vài muỗng đi con” thì chỉ làm bé sợ ăn chứ không thể nào thèm ăn nổi. Nhiều đứa trẻ chưa kịp đói đã thấy mẹ cho ăn, lâu dần mất luôn “phản xạ thèm ăn”. Bạn đừng lo việc để con biết đến cảm giác đói. Đói một chút không sao cả! Cơ thể con người là một bộ máy tuyệt vời, khi bé đói, tức khắc cơ thể sẽ “báo động” và bé sẽ tìm cách đòi mẹ cho ăn ngay thôi. 2. Cho con ăn vào giờ cố định Sau vài ngày quan sát và bắt được nhịp khi nào con cảm thấy đói, bạn hãy dần dần tìm cách cố định giờ ăn cho con vào khoảng thời gian ấy. Tùy theo độ tuổi, trẻ sẽ có nhu cầu dinh dưỡng, số lượng bữa ăn chính phụ, số lượng thực phẩm cần ăn trong mỗi bữa khác nhau. Bạn nên tìm hiểu điều này để đáp ứng cho con, không để trẻ thiếu nhưng cũng không để bé thừa năng lượng. Trẻ quen với nhịp sinh hoạt điều độ sẽ ăn ngủ đúng giờ, phát triển hoàn thiện, tránh được việc biếng ăn, ăn uống thất thường lúc nhiều lúc ít. 3. Tuyệt đối không “lừa” trẻ! Nhiều mẹ thấy con không chịu uống thuốc nên tìm cách “đánh lừa” bé bằng cách cho thuốc vào thức ăn. Bạn tuyệt đối không bao giờ nên thực hiện cách này. Vì thực tế khi trộn thuốc vào thức ăn, thức uống của trẻ có thể gây ra những phản ứng hóa học, mất tác dụng của thuốc, thậm chí là gây hại cho trẻ. Thêm vào đó, chỉ cần bị mẹ “đánh lừa” vài lần, chắc chắn bé sẽ sợ và đề phòng mỗi khi thấy thức ăn, không còn hào hứng với chuyện ăn nữa. 4. Đa dạng món ăn Việc thay đổi khẩu vị thường xuyên sẽ giúp bé tò mò, hào hứng hơn khi đến bữa cơm (được “khám phá” món mới mà!). Thêm vào đó, đa dạng món ăn cũng giúp cho bé không bị thiếu chất. Bạn cần biết rằng theo nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng Quốc gia, trẻ em Việt Nam rất dễ bị thiếu các vitamin và khoáng chất, ví dụ như vitamin A, Kẽm, Magie, Selen… vì ăn uống không đa dạng. 5. Kích thích ngon miệng Bằng cách nào ư? Hãy chú ý đến Kẽm và Selen, Kẽm là những vi chất có khả năng kích thích sự thèm ăn, khiến bé thấy ngon miệng hơn còn Selen tăng khả năng miễn dịch của bé. Những sản phẩm như UpKid của Biolife cung cấp khoáng vi lượng Kẽm và Selen tự nhiên thân thiện với bé và giúp bé hết biếng ăn, tăng đề kháng. Một cách khác cũng kích thích sự ngon miệng là đừng chỉ cho bé ăn bằng “miệng”. Chú ý đến mùi hương của món ăn, trình bày món ăn đẹp mắt, sinh động cũng là cách để bé hào hứng với bữa ăn của mình. 6. Hỗ trợ hệ tiêu hóa non yếu Trong những năm đầu đời, hệ tiêu hóa của trẻ vốn rất non yếu. Vì thế, bạn nhất thiết phải lưu ý đến việc hỗ trợ cho hệ tiêu hóa của con nhằm giúp con tiêu hóa và hấp thu thức ăn tốt hơn. 7. Cung cấp hệ dưỡng chất dễ hấp thu Hệ dưỡng chất dễ hấp thu, chuyển hóa nhanh sẽ giúp bé biếng ăn vẫn hấp thu được trọn vẹn, đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Nếu bạn băn khoăn không biết làm cách nào cung cấp được hệ dưỡng chất như thế này, nên tìm đến sự tư vấn của các bác sĩ chuyên khoa Dinh dưỡng, hoặc chọn cho các sản phẩm đặc thù với công thức đã được các nhà khoa học nghiên cứu riêng cho trẻ biếng ăn.  8. Hãy để bé ăn cùng gia đình Các chuyên gia tâm lý khẳng định rằng rất nhiều trẻ biếng ăn chỉ vì yếu tố tâm lý. Khi được ăn cùng với gia đình, bé sẽ cảm nhận được sự hào hứng với bữa ăn của mọi người, từ đó cũng tập trung với chuyện thưởng thức các món ăn hơn. Được mẹ “hiểu” và áp dụng đầy đủ các bí quyết nói trên, chắc chắn bé yêu của bạn sẽ nhanh chóng thoát khỏi chứng biếng ăn, ăn ngon miệng, phát triển thể chất và tinh thần hoàn thiện.{fcomment}

Vai trò của Kẽm và Selen với tăng trưởng và miễn dịch ở trẻ em

be thieu kem

Thứ tư, 18 Tháng 7 2012 16:46

TÌNH HÌNH THIẾU KẼM VÀ SELEN Ở TRẺ EM Trong những năm gần đây tình trạng thiếu Kẽm ở trẻ em là vấn đề sức khỏe cộng đồng đang được quan tâm ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Khoảng 30% dân số thế giới bị thiếu Kẽm và một tỷ lệ lớn trẻ em ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu Kẽm.   Các nghiên cứu chỉ ra rằng: 26,5% trẻ từ 11-17 tuổi thiếu thiếu kẽm 50%-90% trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài thiếu kẽm. 51,9% trẻ từ 6 tháng đến 75 tháng tuổi thiếu kẽm 15,9% trẻ em từ 11-17 tuổi thiếu selen 75,6% trẻ em cấp 1 thiếu selen 62,3% trẻ em từ 12-72 tháng tuổi ở nông thôn thiếu sel                     KẼM VÀ SELEN CÓ VAI TRÒ NHƯ THẾ NÀO ĐỐI VỚI TĂNG TRƯỞNG VÀ MIỄN DỊCH A. Đối với tăng trưởng KẼM: - Kẽm tham gia vào thành phần của trên 300 enzym kim loại. Kẽm giúp tăng phân chia tế bào, thúc đẩy sự tăng trưởng. Do đó nếu thiếu kẽm, sự phân chia tế bào sẽ khó xảy ra nên ảnh hưởng trầm trọng tới sự tăng trưởng. - Kẽm tham gia vào quá trình sinh tổng hợp và điều hòa chức năng của trục hormone dưới đồi như GH (Growth hormone), IGF-I là những hormone tăng trưởng và kích thích tăng trưởng. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy kẽm có vai trò thúc đẩy tăng trưởng thông qua IGF-I. - Kẽm giúp duy trì và bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác. Thiếu kẽm, sự chuyển hóa của các tế bào vị giác bị ảnh hưởng, gây biếng ăn do rối loạn vi giác. Trẻ em biếng ăn sẽ bị suy dinh dưỡng, ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển. SELEN: - Selen cần cho chuyển hóa i-ốt, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ Selen huyết thanh thường thấp hơn có ý nghĩa ở các trẻ bị bướu cổ so với trẻ có kích thước tuyến giáp bình thường. - Selen có chức năng như một loại enzyme, là một phần của quá trình tạo hormone tuyến giáp. Hormon tuyến giáp rất qua trọng trong việc kích thích đầu vào năng lượng, cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì.  B. Đối với miễn dịch KẼM: - Kẽm giúp phát triển và duy trì hoạt động hiệu quả của hệ thống miễn dịch, cần thiết cho việc bảo vệ cơ thể trước bệnh tật, làm vết thương mau lành.  - Bổ sung kẽm cho trẻ bị suy dinh dưỡng thấp còi có tác dụng phục hồi rõ rệt cả về tốc độ phát triển chiều cao và cân nặng, làm tăng nồng độ hormon IGF-1, nhờ đó mà  giúp làm giảm các dấu hiệu tiêu chảy, viêm phổi... - Selen đóng vai trò thiết yếu trong sự phát triển và hoạt động của bạch cầu. Thiếu hụt Selen gây ra ức chế chức năng miễn dịch, ngược lại nếu bổ sung Selen sẽ tăng cường và/hoặc phục hồi khả năng miễn dịch. Thiếu Selen còn ức chế khả năng đề kháng chống nhiễm trùng, hậu quả của suy giảm chức năng bạch cầu và tuyến ức. - Selen vai trò trong phục hồi cấu trúc di truyền, tham gia kích hoạt một số enzyme trong hệ thống miễn dịch, giải độc một số kim loại nặng.  Đọc thêm: Bé biếng ăn phần lớn do thiếu vi chất kẽm DẤU HIỆU CỦA THIẾU KẼM VÀ SELEN * Đối với trẻ nhỏ, dấu hiệu thường thấy là ăn không ngon, vị giác bất thường, rụng tóc, tiêu chảy kéo dài, thương tổn ở da và mắt, chậm lớn, cơ quan sinh dục chậm trưởng thành. Thiếu kẽm cũng gây ra sụt cân, thiếu máu, chậm lành vết thương và kém minh mẫn.  * Thiếu selen ở mức trầm trọng có liên quan đến bệnh Keshan, một bệnh loạn ở tim và tổn thương cơ tim nặng nề, bênh xuất hiện chủ yếu ở trẻ em và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Thiếu selen mức độ nhẹ thường không có triệu chứng gì đặc biệt, tuy nhiên nó góp phần làm xuất hiện các tổn hại tế bào quan trọng cũng như thúc đẩy quá trình lão hóa và nguy cơ mắc các bệnh thoái hóa. Thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài có nguy cơ ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch.   Đọc thêm: Những bệnh lý nguy hiểm khi thiếu kẽm ở trẻ nhỏ    NHU CẦU KẼM VÀ SELEN KHUYẾN NGHỊ CHO TRẺ EM VIỆT NAM Nhu cầu kẽm ở trẻ dưới 1 tuổi vào khoảng 5m/ngày, ở trẻ 1-10 tuổi khoảng 10mg/ngày, thanh thiếu niên và người trưởng thành khoảng 15mg/ngày đối với nam và 12mg/ngày đối với nữ. Đối với trẻ 0-6 tháng nhu cầu selen là 6 mcg/ngày, trẻ 7-12 tháng là 10 mcg/ngày, trẻ 1-3 tuổi là 17 mcg/ngày, trẻ 4-9 tuổi khoảng 20 mcg/ngày, đối với thanh thiếu niên 10-18 tuổi nhu cầu là 26 mcg/ngày ở nữ và 32 mcg/ngày ở nam. Nguồn: FAO/WHO (2002 và 2004)   BỔ SUNG KẼM VÀ SELEN BẰNG CÁC THỰC PHẨM NÀO? Thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng..). Với trẻ nhũ nhi, để có đủ kẽm, nên cố gắng cho bú mẹ vì kẽm trong sữa mẹ dễ hấp thu hơn nhiều so với sữa bò. Lượng kẽm trong sữa mẹ ở tháng đầu tiên là cao nhất (2-3 mg/lít), sau 3 tháng thì giảm dần còn 0,9mg/l. Lượng kẽm mà người mẹ mất qua sữa trong 3 tháng đầu ước tính khoảng 1,4 mg/ngày. Do đó, người mẹ cần ăn nhiều thực phẩm giàu kẽm để có đủ cho cả hai mẹ con.Đọc thêm: Cách bổ sung kẽm tự nhiên cho trẻ    Các phủ tạng như thận, gan (chứa từ 0,4 mcg/g tới 1,5 mcg/g), và những thức ăn động vật gồm thịt (từ 0,1 mcg/g đến 0,4 mcg/g) là các nguồn thức ăn chứa nhiều selen. Hàm lượng khá cao trong cá và hải sản (20,8 - 40,5 đến mcg/100g) và trứng (40,2 mcg đến 14,9 mcg/100g). Hàm lượng selen vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả. Các nhà khoa học trên thế giới đã nghiên cứu thành công công nghệ Bioenrich tăng hàng nghìn lần hàm lượng khoáng vi lượng như Kẽm, Selen, Sắt, … trong mầm các loại đỗ. Với các thành tựu của khoa học và công nghệ, con người ngày càng chủ động hơn với các nguồn bổ sung khoáng vi lượng tự nhiên cần thiết hàng ngày.     Cốm dinh dưỡng Upkid bổ sung kẽm và selen - giải pháp cho trẻ biếng ăn.    Hãy chat với chúng tôi hoặc gọi tới hotline 01663.696969 để được tư vấn tốt hơn về dinh dưỡng cho bé!

Trang 35/36

facebook skype 1900.2088

Hotline

1900.2088

Mua hàng