Biolife Corp.

Blog

Chất khoáng: giúp tăng cường hấp thu, tiêu hóa và vận chuyển

biolife.khoangchat

Thứ tư, 26 Tháng 9 2012 14:02

Những thực phẩm có chứa nhiều kiềm là rau quả và một số hạt.   Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng (vitamin & chất khoáng) ở trẻ em đang là vấn đề cần được quan tâm, vì khi thiếu sẽ có nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ đặc biệt là phụ nữ và sự phát triển của trẻ. Trong 1 nghiên cứu mới đây cho thấy có 57,8% phụ nữ tuổi sinh đẻ thiếu vitamin D, thiếu kẽm 67,2%, thiếu vitamin B12 là 11,7%, thiếu máu 11,6 %. Ở trẻ em thiếu vitamin D là 57,3%, thiếu kẽm 51,9 % . Trong phần nội dung này, chúng tôi muốn đề cập tới vai trò của chất khoáng với sức khoẻ, mong rằng sẽ phần nào giúp ích để có biện pháp phòng ngừa.  1. Tại sao gọi là vi chất dinh dưỡng ? Vi chất dinh dưỡng là những chất mà cơ thể cần một lượng rất nhỏ nhưng có vai trò rất quan trọng, khi thiếu sẽ dẫn đến những ảnh hưởng nghiêm trọng cho cơ thể. Khi nói đến vi chất dinh dưỡng, tức là bao gồm các vitamin (A, B, C, D, E…) và các vi khoáng (sắt, kẽm, đồng, selen, mangan…). 1. Khái niệm : Tất cả các chất hóa học trên trái đất được coi là chất khoáng, trừ carbon có chứa thành phần hữu cơ được sản xuất trong cơ thể. Cho đến nay có rất nhiều chất khoáng được khoa học dinh dưỡng biết đến với các chức năng sinh học. Một chất khoáng được coi là cần thiết cho cơ thể khi chúng tham gia ít nhất vào một trong các chức năng sống của cơ thể là phát triển hoặc sinh sản. Các vai trò chính của chất khoáng là: - Tăng cường sức khỏe hoặc phát triển, khi bị thiếu hụt sẽ gây những rối loạn về chức năng trên. - Chức năng của chất khoáng này không thể được thay thế bằng một chất khoáng khác. - Có mối liên quan giữa hạ thấp nồng độ chất khoáng trong máu, tổ chức với rối loạn chức năng của cơ thể. Có thể chia các chất khoáng làm 2 nhóm : - Đa khoáng (macronutrient minerals) gồm những chất có mặt  trong cơ thể với 1 lượng tương đối lớn > 0,005% trọng lượng cơ thể và đòi hỏi một nhu cầu lớn từ thức ăn, hầu hết các đa khoáng tồn tại < 1 % trọng lượng cơ thể ( trừ canxi chiếm 1,5- 2%). - Vi khoáng (micronutrient minerals) gồm những chất tồn tại trong cơ thể và cơ thể cần một lượng nhỏ hơn. Với 1 lượng nhỏ nhưng có vai trò cự kỳ quan trọng trong cơ thể. Ví dụ : iod chỉ có mặt với 1 lượng 0,00004 % trọng lượng cơ thể nhưng khi thiếu cũng gây ra những bệnh lý trầm trọng không kém thiếu canxi, chiếm 2% trọng lượng cơ thể… 2. Vai trò của chất khoáng: các chất khoáng tham gia vào nhiều vai trò sinh học trong cơ thể. Cấu tạo nên cơ thể : Thành phần cơ thể bao gồm nhiều nguyên tử chất khoáng. Canxi, photpho là thành phần chính của xương và răng; Clor rất cần thiết cho thành phần axit HCL trong dịch vị dạ dày, giúp cho quá trình tiêu hóa. Hormon tuyến giáp thyroxin chứa 4 nguyên tử iod. Vitamin B1 chứa sulfur, vitamin B12 chưa cobalt. Chất khoáng có thể được lưu vĩnh viến trong cơ thể, hoặc được chuyển thường xuyên. Tham gia phản ứng sinh học: Nhiều ion khoáng liên kết với enzyme đặc hiệu và tạo nên những điểm hoạt động của enzyme, là nơi các xúc tác xảy ra. Tất cả các enzyme xúc tác cho phản ứng hóa học trong cơ thể, có đến 1/3 số các enzyme cần có mặt của các chất khoáng mới hoạt động được, do vậy vai trò của các chất khoáng được coi là cực kỳ quan trọng cho sự sống. Khi thiếu một trong các chất khoáng sẽ gây rối loạn hoặc mất chức năng hoạt động của enzyme, kéo theo những rối loạn chức năng đặc hiệu của cơ thể. Ví dụ: protein được hoạt hóa bởi quá trình phosphoryl hóa, trong đó ion phosphate ( P04) được gắn với điểm đặc hiệu của protein. Hemoglobin có chức năng quan trọng vận chuyển và trao đổi oxy của cơ thể có chứa các ion sắt, làm nhiệm vụ kết gắn các phân tử oxy vào protein. Tăng cường hấp thu, tiêu hóa và vận chuyển: Hấp thu một số chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa phụ thuộc vào quá trình vận chuyển qua thành ruột của cơ thể và một số chất khoáng. Natri, magie giúp hấp thu chất bột đường tại ruột và vạn chuyển qua màng tế bào, trong khi canxi giúp cho hấp thu vitamin B12. Các enzyme tiêu hóa được hoạt hóa bởi các chất khoáng có trong đường tiêu hóa. Giữ cân bằng acid- kiềm: Đa số các phản ứng sinh học trong cơ thể được xảy ra trong môi trường PH nhất định ( từ 7,35 đến 7,45), trừ PH trong dạ dày được duy trì vào khoảng 2. Một số chất khoáng tạo môt trường acid như clor, sulfur, phosphor. Một số chất khoáng tạo môi trương kiềm như natri, kali, canxi. Những thực phẩm có chứa nhiều chất khoáng acid thường là thịt, cá, trứng và ngũ cốc. Những thực phẩm có chứa nhiều kiềm là rau quả và một số hạt. Một số gọi là thực phẩm trung tính do chứa ít chất khoáng hoặc cân bằng giữa khoáng acid và kiềm như sữa, đường, tinh bột, chất béo, dầu mỡ. Giữ cân bằng nước: các ion kim loại có vai trò rất quan trọng trong việc chuyển đổi nước của cơ thể, chúng giữ vai trò điều hòa áp lực thẩm thấu  của các  dịch cơ thể. Truyền các xung động thần kinh: các chất khoáng giữ vai trò rất quan trọng trong việc truyền các xung động thần kinh theo các dây thần kinh. Khi một tế bào thần kinh bắt đầu  nhận tín hiệu và truyền xung động “kênh natri” ở màng được mở và dòng natri từ gian bào thâm nhập vào trong tế bào. Trong hoạt động  của hệ TK thì ion natri, kali, canxi có vai trò quan trọng. Như vậy tất cả các hoạt động của não, những cảm giác về ánh sáng , âm thanh, tiếp xúc vị giác, kiểm soát các hoạt động cơ bắp, phụ thuộc vào sự cung cấp các chất khoáng từ chế độ ăn. Điều hoà co cơ : Cơ bắp của cơ thể được đặt  trong môi trường chất lỏng giữa các cơ, chúng có chứa một số ion (canxi) làm tăng cường co bóp của cơ, một số ion khác làm tăng quá trình dãn cơ (nattri, kali, magiê), nồng độ các chất khoáng này cần được duy trì ở múc cân bằng. Những chế độ ăn đa dạng thưòng cung cấp đủ các chất khoáng. 3. Nguồn gốc: Vì các chất khoáng ion hoặc nguyên tử rất cần thiết và không tự tổng hợp được trong cơ thể, do vậy các chất khoáng cần được đưa vào cơ thể qua thực phẩm và nước uống. Sau đây là bảng nhu cầu khuyến nghị chất khoáng ở trẻ em Bảng nhu cầu khuyến nghị chất khoáng trong khẩu phần 1 ngày ( Viện Dinh Dưỡng 2007) Canxi(mg) Iod mcg sắt (mg) Kẽm(mg) Magiê (mg) Phospho(mg) Trẻ em < 6 tháng 300 90 0,93 2,8 36 90 6-11tháng 400 90 12,4 4,1 54 275 1-3 tuổi 500 90 7,7 4,1 65 460 4-6 tuổi 600 90 8,4 5,1 76 500 7-9 tuổi 700 90 11,9 5,6 100 500 Nữ trưởng thành 1000 150 39,2 4,9 205 70 Chú ý : Nhu cầu sắt tính theo giá trị sinh học khẩu phần sắt hấp thu 10%. Kẽm mức hấp thu vừa Theo: dinhduongngaynay.com.vn

Khi nào cần bổ sung dưỡng chất cho trẻ

biolife.bosungvichat

Thứ tư, 26 Tháng 9 2012 13:43

Vitamin và khoáng chất là một trong những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của trẻ. Nếu thiếu hụt vi chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, trí tuệ, cản trở sự phát triển của trẻ nhỏ. Làm sao để biết bé thiếu vi chất? Thông thường, để biết bé có bị thiếu vi chất hay không, bạn nên đưa bé đến bác sĩ dinh dưỡng để được khám và chuẩn đoán. Ngoài ra, bạn có thể dựa vào những yếu tố sau: - Trẻ đẻ non, sinh đôi, các trẻ lớn quá nhanh do nhu cầu Vitamin quá cao so với sự cung cấp của chúng ta hàng ngày. - Trẻ suy dinh dưỡng hoặc trẻ sau giai đoạn bệnh (nhiễm khuẩn, ho hen, tiêu chảy…) thì đương nhiên phải được bổ sung vitamin và khoáng chất. - Trẻ biếng ăn dài ngày Hậu quả của việc thiếu vi chất Khi cơ thể bị thiếu vitamin và khoáng chất, trẻ sẽ chậm lớn, mắc một số bệnh, chẳng hạn: Thiếu vitamin A có thể gây bệnh ở mắt, nhiễm khuẩn đường hô hấp và đường tiêu hóa; Thiếu vitamin B1 dễ bị phù, viêm các dây thần kinh, suy tim; da tay chân nóng và dễ viêm, dễ rối loạn tiêu hóa, hay nôn, chán ăn, tinh thần không phấn chấn. Thiếu vitamin C dễ gây chảy máu dưới da và niêm mạc, làm giảm sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật, đặc biệt là các bệnh nhiễm khuẩn; vòm miệng và lưỡi có nhiều mụn nhiệt, dễ ốm vặt. Trẻ hay mệt mỏi khi hoạt động; Thiếu vitamin K dễ bị xuất huyết, đặc biệt xuất huyết não, màng não; Thiếu vitamin D và canxi sẽ bị còi xương; chậm mọc răng, ngủ không yên giấc, hay vặn mình, ra nhiều mồ hôi trộm nhất là ở phần đầu, tóc rụng thành một vành sau gáy; Thiếu kẽm sẽ làm cho trẻ bị thấp lùn, biếng ăn, dễ bị bệnh nhiễm trùng, dễ mắc các bệnh ngoài da; Thiếu fluor dễ mắc bệnh răng miệng; Thiếu sắt dẫn đến thiếu máu…. Bổ sung vi chất cho trẻ như thế nào? Nếu con bạn không may rơi vào nhóm trẻ có nguy cơ bị thiếu vitamin và khoáng chất, thì bổ sung các chất này cho trẻ là việc làm cần thiết. Ngoài ra, nếu bạn nghi ngờ chế độ ăn không cung cấp đầy đủ thì ngay cả những trẻ khỏe mạnh cũng nên bổ sung vitamin và khoáng chất. Nhưng, việc bổ sung vitamin và khoáng chất cho trẻ phải hết sức thận trọng, vì chúng cũng có nhiều tác dụng phụ không mong muốn như bất kỳ thuốc chữa bệnh nào. Bổ sung đầy đủ vi chất giúp trẻ khỏe mạnh Liều bổ sung bao giờ cũng phải thấp hơn nhu cầu hàng ngày, trừ trường hợp trẻ đang bị mắc bệnh do thiếu các vitamin và khoáng chất đó thì có thể phải dùng liều cao hơn, trường hợp này phải uống theo sự chỉ dẫn của BS nhi khoa.  Vì vậy các bậc phụ huynh cần phải biết nhu cầu hàng ngày các vitamin và khoáng chất này là bao nhiêu. - Các chế phẩm Vitamin và vi chất dinh dưỡng đơn lẻ thường có hàm lượng rất cao, như Vitamin B12 loại 5.000-10.000mcg (cao gấp 800-1.600% nhu cầu hằng ngày), Vitamin C 1.000mg, nguyên tố kẽm 100mg (cao gấp 330-660% nhu cầu hằng ngày)... khi sử dụng cần tham khảo và tuân thủ tuyệt đối chỉ định của thầy thuốc. Bổ sung vi chất bằng cách ăn đa dạng các loại thực phẩm Việc sử dụng thuốc bổ sung vitamin không thay thế được thức ăn, mà vẫn phải cho trẻ ăn uống đầy đủ, cân bằng các nhóm thực phẩm. Bổ sung vi chất bằng cách cho trẻ ăn đa dạng các loại thực phẩm Thực phẩm giàu kẽm gồm sò, củ cải, đậu Hà Lan, đậu nành, lòng đỏ trứng gà; Vitamin C có nhiều trong cam, quýt, bưởi, ổi chín, rau cải, rau muống, rau ngót. Canxi có nhiều trong tôm, cua, trai, ốc, phó mát. Vitamin D được cung cấp chủ yếu qua việc cho trẻ tiếp xúc với ánh nắng, và qua các thực phẩm như dầu cá, trứng, gan. Vitamin B có nhiều trong các loại ngũ cốc nguyên cám, đậu đỗ, thịt gà, rau lá xanh thẫm, chuối, lê, sữa, pho mát. Các thức ăn như tiết bò, tiết lợn, gan động vật, bầu dục, thịt bồ câu, đậu tương, vừng, đậu trắng… là những thực phẩm rất giàu chất sắt. Còn những thức ăn có nhiều vitamin A lại tập trung ở các loại rau lá có màu xanh thẫm, các loại củ quả có màu vàng… Ngoài ra, việc chế biến, lưu trữ thực phẩm không đúng cách cũng làm mất đi lượng lớn vitamin và khoáng chất: rau bị héo, trái cây không còn tươi nên mất nhiều vitamin C, gạo càng trắng càng ít vitamin B1, thức ăn nấu quá kỹ vitamin C sẽ không còn… Tóm lại, Để phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ, ngoài bổ sung vi chất ra, điều quan trọng là bữa ăn của trẻ cần có nhiều loại thức phẩm khác nhau, thường xuyên thay đổi cách chế biến để trẻ ngon miệng, đủ chất. Các thực phẩm có nguồn gốc động vật như: thịt, trứng, sữa có nhiều vitamin A, sắt, kẽm;  tôm, cua, cá có nhiều can xi. Nhưng cần chú ý để trẻ  hấp thu được sắt   cần cho trẻ ăn rau xanh, hoa quả chín để tăng nguồn vitamin C. Vitamin A, D là vitamin tan trong chất béo, vì thế  bữa ăn của trẻ cần có dầu ăn  hoặc  mỡ để tăng hấp thu, chuyển hoá vitamin A, D. Theo: dinhduongngaynay.com.vn

Những điều cần biết về phát triển chiều cao ở trẻ

biolife.thucphamchuacanxi

Thứ tư, 26 Tháng 9 2012 10:16

Sự phát triển chiều dài của thai nhi rất sớm ngay từ những tuần đầu của bào thai và chiều dài đạt cao nhất vào giai đoạn trước tuần thứ 15 của thai kỳ, trong khi đó cân nặng của bào thai đạt cao nhất vào tuần thứ 32 đến tuần thứ 34 của thai kỳ. Chiều dài của thai nhi có một ý nghĩa hết sức quan trọng đối với chiều cao đỉnh điểm có thể đạt tới lúc trưởng thành. Sau khi ra đời, trong năm đầu tiên chiều cao trẻ phát triển rất nhanh, chiều cao trẻ 1 tuổi đã gấp rưỡi chiều cao lúc mới đẻ, ví dụ lúc mới sinh chiều dài của trẻ là 50cm, đến 1 tuổi chiều dài của trẻ sẽ là 75cm. Từ 1 tuổi đến 19 tuổi trẻ ở giai đoạn lớn đều mỗi năm tăng trung bình khoảng 5cm. Khi đến thời kỳ tiền dậy thì trẻ lớn rất nhanh. Tuổi tiền dậy thì của trẻ em Việt Nam là 9-11 tuổi đối với nữ và 12-14 tuổi đối với nam. Lứa tuổi này chiều cao của trẻ nữ tăng mỗi năm khoảng 6cm và trẻ nam là 7cm. Khi đến tuổi dậy thì (12-13 đối với nữ và 15-16 đối với nam) thì sức lớn chậm lại, mỗi năm tăng khoảng 2cm. Giai đoạn tiếp theo cho đến 25 tuổi thì sức lớn rất chậm, chỉ tăng khoảng 1-2cm hoặc hầu như không tăng. Cơ thể con người hết tuổi lớn đối với nữ là khoảng 23 tuổi và nam là 25 tuổi. Nhiều nghiên cứu cho thấy có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao, nhưng có 3 yếu tố chính và có thể tác động được đó là:1. Yếu tố về dinh dưỡng Vai trò của protein (chất đạm): chất đạm đóng vai trò thiết yếu trong cấu trúc của cơ thể, đặc biệt là các chất đạm động vật với đầy đủ các axit amin cần thiết. Vai trò của Canxi: canxi là chất dinh dưỡng chính tham gia vào cấu trúc hệ xương, thiếu canxi sẽ ảnh hưởng đến sức lớn và sự vững chắc của xương. Ảnh minh họa Vai trò của lipid (chất béo): Chất béo rất quan trọng trong sự phát triển các xương dài của trẻ khi còn nhỏ. Đồng thời chất béo còn giúp cho tăng cường hấp thu tốt các vitamin tan trong dầu như vitamin A, D…giúp hệ xương phát triển tốt. Vai trò của vi chất dinh dưỡng: Các nghiên cứu tiến hành gần đây cho thấy ảnh hưởng của thiếu vi chất dinh dưỡng đến suy dinh dưỡng đến suy dinh dưỡng thể thấp còi, đặc biệt đáng chú ý là ảnh hưởng do thiếu kẽm, sắt, vitamin A và thiếu Iốt. 2. Yếu tố về môi trường-xã hội: Yếu tố môi trường và xã hội có ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển thể lực trẻ em, đặc biệt là phát triển chiều cao. Trẻ dễ bị suy dinh dưỡng thấp còi khi sống lâu trong điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, môi trường thiếu vệ sinh, không đủ nước sạch, thực phẩm không đảm bảo an toàn vệ sinh và chất lượng chăm sóc kém.3. Luyện tập thể dục thể thao Thường xuyên luyện tập thể dục thể thao có tác dụng rất tốt tới sự phát triển thể lực và tăng cường các phản xạ nhanh nhẹn, bền bỉ, dẻo dai. Nhiều môn thể thao hỗ trợ tốt cho phát triển chiều cao như bơi, nhảy cao, nhảy xa, chạy… Như vậy, mọi can thiệp nhằm cải thiện chiều cao của con người cần phải thực hiện sớm, càng sớm càng tốt ngay từ những tuần đầu tiên của thai nhi. Quá trình chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cần được tiếp tục được thực hiện đồng bộ trong suốt quá trình tiếp theo, từ khi trẻ ra đời, thời kỳ bú mẹ, tuổi nhà trẻ mẫu giáo, tuổi học sinh, tuổi vị thành niên. Chính vì vậy, gần đây người ta đã thừa nhận cách tiếp cận mới là cần thực hiện chăm sóc dinh dưỡng sớm, chăm sóc cho các bé gái từ học sinh, từ tuổi vị thành niên cho đến trước khi có thai. Đồng thời trong quá trình chăm sóc nuôi dưỡng trẻ cần đặc biệt quan tâm đến những giai đoạn trọng điểm của phát triển chiều cao, đó là thời kỳ bào thai, năm đầu tiên của cuộc đời và thời kỳ tiền dậy thì. Trong những giai đoạn này, tác động của yếu tố dinh dưỡng có ảnh hưởng tích cực tới sự phát triển chiều cao. Theo: viendinhduong.vn

Trẻ biếng ăn là do lỗi của cha mẹ

BIOLIFE. tre bieng an la do loi cua tra me

Thứ tư, 26 Tháng 9 2012 09:51

Bạn thấy bực mình, lo lắng vì con mình không chịu ăn dù có dỗ dành hay la mắng? Hãy bình tĩnh. Đừng trừng mắt lên với trẻ vì chính bạn đã làm trẻ chán ngán với những bữa ăn tù túng, căng thẳng và đơn điệu. Có khoảng 5% số trẻ em lười bú ngay khi vừa sinh ra. Ở lứa tuổi 2-3, tỷ lệ biếng ăn lên đến 30-40%. Các cháu không có lỗi gì trong việc này vì nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ các bậc cha mẹ. Nguyên nhân phổ biến nhất gây chán ăn là bữa cơm không được thoải mái và thú vị. Bữa ăn nhiều khi trở thành “cuộc chiến”, trẻ bị ép ngồi gò bó, bị la, bị nhồi nhét dù không thấy đói... Bé còn cảm nhận thấy một không khí căng thẳng giữa những người thân khi bé ăn thừa vài muỗng bột, vài chục ml sữa. Có cháu rất cảnh giác vì cha mẹ hay cho thuốc vào thức ăn. Tất cả điều đó dẫn đến tình trạng trẻ dần dần sợ bữa ăn. Trong bữa ăn, hãy để trẻ khám phá thế giới qua các giác quan của mình như vị giác, xúc giác (được cầm, bốc, xúc thức ăn), thị giác (với các ly chén dĩa ngộ nghĩnh, màu sắc của thức ăn)... trong một không khí thoải mái có ánh mắt, nụ cười của người thân. Cách chế biến chưa phù hợp cũng khiến trẻ không mặn mà với chuyện ăn uống. Nhiều phụ huynh cứ lặp lại mãi công thức khoai tây - cà rốt - củ dền - đậu Hà Lan hầm xương, cộng với thịt xay nhuyễn, làm cho trẻ mỗi khi thấy mùi vị của một trong những thành phần đó là... bỏ chạy. Có người chỉ cho ăn nước thịt, nước rau, không cho ăn xác khiến trẻ bị thiếu các chất dinh dưỡng cần thiết, dẫn đến biếng ăn. Lại có trẻ mới 10-12 tháng đã được cho ăn cơm như người lớn (trong khi trẻ phải hơn 2-3 tuổi mới nhai tốt) nên không ăn được nhiều. Biếng ăn cũng có thể là dấu hiệu của một bệnh lý nào đó. Trẻ trong 2 năm đầu trung bình cứ 4 ngày khỏe lại có một ngày bệnh lặt vặt, ăn kém. Biểu hiện biếng ăn có thể xuất hiện trong giai đoạn sắp bị bệnh và diễn ra cho đến lúc khỏi, nhất là với các chứng tiêu chảy, viêm đường hô hấp, sốt nhiễm trùng, cảm cúm, lao sơ nhiễm, nhiễm sán lãi... Trong thời gian bị bệnh, cần chú ý cho trẻ ăn lỏng, ăn nhiều lần những món mà trẻ thích nhất. Khi khỏi, trẻ cần được ăn bù để lấy lại sức, tránh rơi vào tình trạng suy dinh dưỡng. Việc thiếu các chất lysin, protein, kẽm, kali, magie... (thường gặp ở trẻ suy dinh dưỡng) cũng gây biếng ăn. Ngay cả khi khỏe mạnh, trẻ cũng có những giai đoạn ăn ít hẳn đi trong vài ngày đến vài tuần mà vẫn vui chơi bình thường. Đó là các giai đoạn trẻ mải "học" quên ăn. Các thời điểm đó thường trùng với lúc trẻ học các kỹ năng mới: ngồi, đứng, đi, nói... Sau đó, trẻ sẽ ăn uống lại bình thường. Điều cốt yếu là cha mẹ đừng ép bé ăn quá mức dẫn đến biếng ăn tâm lý. 10 lưu ý để phòng ngừa và khắc phục chứng biếng ăn 1. Tập cho bé ăn nhiều loại thức ăn khác nhau từ giai đoạn ăn dặm (lúc 5-7 tháng tuổi). Lúc này, vị giác chưa phát triển nên trẻ dễ dàng tiếp nhận các loại thức ăn có mùi vị khác nhau, tạo thành thói quen ăn uống đa dạng khi lớn. 2. Không bao giờ cho thuốc vào thức ăn như sữa, nước trái cây, chuối… làm trẻ sợ và luôn cảnh giác với thức ăn. 3. Không cần thiết canh quá kỹ từng bữa ăn, từng muỗng bột, vài chục ml sữa… Có lúc trẻ ăn ít một chút rồi sau đó sẽ ăn bù. 4. Làm cho bé thích thú với thức ăn bằng câu chuyện ngộ nghĩnh về thực phẩm, màu sắc xanh đỏ của rau, cà rốt… Thức ăn có mùi vị hấp dẫn và được thay đổi sẽ giúp bé ham ăn hơn. 5. Bạn đừng quá cứng nhắc đặt bé vào ghế ăn, khăn yếm quá chỉnh tề. Hãy cho bé ngồi thoải mái nơi ưa thích. Để bé được tự xúc cùng mẹ dù còn vụng về, đổ tháo. Nhiều khi bé thích bốc, nhón thức ăn... vì như vậy thú vị hơn ngồi há miệng để mẹ đút. Chén đĩa, ly tách, muỗng... có hình thù ngộ nghĩnh sẽ làm cho bữa ăn của bé thật sự trở thành một cuộc vui. Bạn hãy nhớ, ở tuổi này bé không chỉ ăn mà còn bận rộn khám phá cả thế giới. 6. Lớn lên một chút, bé thích được hỏi mình muốn ăn gì. Bé có thể tham gia đi lựa mua thức ăn cùng mẹ và “phụ” nhặt rau, rửa cà… Chắc chắn các món có sự tham gia của bé sẽ làm bé cảm thấy ngon hơn. 7. Đừng dùng thức ăn vào các mục đích khác như trừng phạt hay khen thưởng, lâu ngày sẽ dẫn đến các rối loạn hành vi ăn uống. Trẻ dễ có khuynh hướng dùng việc ăn uống để phản đối hay gây sức ép lại cha mẹ khi chúng gặp khó khăn. 8. Không cho trẻ ăn quà vặt trước bữa ăn chính trong vòng 1,5 đến 2 giờ, làm bé “ngang dạ” khi vào bữa ăn. 9. Có những giai đoạn bé ham thích và ăn liên tục một loại thức ăn nào đó như trứng hay cả nải chuối mỗi ngày. Hãy để bé ăn thỏa thích, bé sẽ trở lại ăn uống bình thường sau vài ngày hoặc vài tuần. 10. Có những giai đoạn biếng ăn sinh lý, thường trùng với lúc trẻ học thêm các kỹ năng mới.Đừng ép uổng quá đáng làm bé biếng ăn thực sự. Các thời điểm biếng ăn sinh lý thường gặp lúc trẻ 7-9 tháng; 2-3 tuổi; 5-6 tuổi. Thông tin bổ sung:>> Nguyên nhân và triệu chứng trẻ biếng ăn >> Phải làm gì khi trẻ biếng ăn>> Những bệnh lý nguy hiểm khi thiếu kẽm và selen ở trẻ nhỏ

Trẻ 8 tháng vẫn bị đổ mồi hôi đầu

Thứ ba, 25 Tháng 9 2012 16:22

Ngày 25/09/2012 Nội dung câu hỏi: Chào Bác sĩ! Con em được 8 tháng cân nặng 8kg rưỡi, lúc sinh cháu đã được 4kg rưỡi nhưng cháu đổ mồi hôi đầu rất nhiều,nhưng thể đang gội đầu vậy,cháu ăn uống bình thường nhưng vai ngày nay hay bị sổ mũi,ho,nóng cháu chỉ mọc được 2 cái răng lúc cháu 5 tháng đến nay.

Đọc thêm...

Trẻ biếng ăn, phải làm sao?

Thứ ba, 25 Tháng 9 2012 14:41

Ngày 25/09/2012 Câu hỏi: Chào bác sĩ, Tôi có đứa cháu ngoại nay được 10 tháng, nặng 10 kg, cao 72 cm. Hơn một tuần nay cháu rất biếng ăn và bú sữa. Hiện nay tôi cho cháu ăn cháo (cháo nấu bằng bột gạo dinh dưỡng, rau và thịt, cá xay, nấu xong mới quấy bột gạo. Trong cháo tôi có cho ăn thêm phomai, dầu thực vật và mỡ gà). Nhưng gần đây cháu biếng ăn, uống sữa cũng ít. Xin hỏi Bác sĩ làm cách nào để kích thích cho cháu ăn và có phải uống thuốc gì không? Cám ơn bác sĩ.

Đọc thêm...

Trẻ biếng ăn, giảm miễn dịch do thiếu kẽm, selen

Biolife.upkid

Thứ hai, 24 Tháng 9 2012 16:09

Nếu bạn là những ông bố bà mẹ quan tâm đến sự phát triển của con cái thì hẳn bạn đã từng tìm hiểu ở đâu đó về tầm quan trọng của kẽm va selen? Sự cần thiết của kẽm đối với sức khỏe và sự phát triển của trẻ Đối với trẻ em, kẽm là vi chất vô cùng thiết yếu giúp cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của trẻ trong giai đoạn mang thai, tuổi thơ và cả vị thành niên. Đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng của hệ xương, bởi vậy việc để cơ thể trẻ thiếu kẽm sẽ kìm hãm sự tăng trưởng và phát triển. Do đó ngay từ nhỏ, trẻ cần được bổ sung kẽm một cách đầy đủ và hợp lý để có thể phát triển chiều cao tối ưu. Không chỉ có tác dụng với thể chất, tình trạng thiếu kẽm còn ảnh hưởng xấu đến tinh thần, làm dễ nổi cáu. Nguyên nhân cơ bản là do kẽm giúp vận chuyển canxi vào não, mà canxi là một trong những chất quan trọng giúp ổn định thần kinh. Việc thiếu kẽm cũng có thể khiến trẻ dễ mắc bệnh tự kỷ. Theo một nghiên cứu mới nhất của Nhật Bản, thì sau khi tìm thấy số lớn các trẻ mắc tự kỷ và những bệnh liên quan như hội chứng Asperger đều xuất phát từ nguyên nhân thiếu vi chất này. Bên cạnh đó, việc thiếu kẽm cũng dẫn đến nguy cơ nhiễm khuẩn đường hô hấp, tiêu chảy cấp. Kẽm giúp cơ thể chống chọi với bệnh tật do thúc đẩy các tế bào miễn dịch hoạt động hiệu quả hơn, làm lành vết thương. Việc thiếu kẽm sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển và chức năng của hầu hết các tế bào miễn dịch, khiến ta dễ bị nhiễm trùng, tăng nguy cơ tiêu chảy cấp, viêm đường hô hấp, sốt rét... Selen – Vi chất cần thiết cho sự tăng trưởng và ổn định sức khỏe Selen luôn chuyển hóa i-ốt và có chức năng như một loại enzyme trong quá trình tạo hormone tuyến giáp nhằm kích thích đầu vào năng lượng, cần thiết cho sự tăng trưởng, phát triển và duy trì sức khỏe. Bởi vậy, việc bổ sung selen cho trẻ là vô cùng quan trọng mà các bậc phụ huynh phải hết sức lưu tâm. Ngoài ra, nếu để cơ thể thiếu selen lâu dài, khi đến tuổi trưởng thành có thể mắc các bệnh sau: - Ung thư: Rất nhiều thử nghiệm lâm sàng chứng tỏ tỷ lệ tử vong do ung thư tăng khi lượng selen đưa vào thấp hơn lượng tối ưu. - Thiếu selen ở mức trầm trọng có liên quan đến bệnh Keshan, một bệnh loạn ở tim và tổn thương cơ tim nặng nề.  - Bệnh tim mạch: Cũng như các chất chống oxy hóa khác, chế phẩm bổ sung selen giúp ngăn ngừa bệnh tim mạch và đột quỵ.  - Bệnh vô sinh: Ngoài ra, thiếu Selen còn dễ dẫn đến tình trạng vô sinh của nam giới và làm giảm khả năng thụ thai của nữ. - Bệnh Kaschin-beck: Bệnh có đặc trưng là hoại tử khớp, sự thoái hóa đầu xương của khớp cánh tay và chân dẫn đến rút cấu trúc ngón tay và các xương dài kéo theo sự tăng trưởng chậm và còi cọc. Bổ sung kẽm và selen cho bé như thế nào? Với tầm quan trọng như vậy, trong khẩu phần ăn uống cần phải được cung cấp đủ kẽm và selen, đặc biệt là đối với trẻ em và người cao tuổi, nhằm giúp cơ thể phát triển bình thường và giảm nguy cơ mắc những bệnh trên. Trẻ em rất cần bổ sung kẽm và selen. Theo khuyến nghị, bé dưới một tuổi nên được bổ sung khoảng 5mg một ngày; trẻ 1 - 10 tuổi khoảng 1 mg/ngày. Ngoài ra, trẻ 0 - 6 tháng có nhu cầu selen là 6mcg/ngày; trẻ 7 - 12 tháng là 10mcg/ngày; trẻ 1 - 3 tuổi là 17mcg/ngày; trẻ 4 - 9 tuổi khoảng 20 mcg/ngày. Nguồn cung cấp kẽm và selen cho cơ thể có trong nhiều loại thực phẩm. Trong đó, thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng...). Bên cạnh đó, hàm lượng selen cũng có nhiều trong cá, hải sản (20,8 - 40,5 mcg/100 gram) và trứng (40,2 mcg-14,9 mcg/100 gram), vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả. Khi cơ thể có biểu hiện thiếu hụt kẽm, ngoài việc chú ý khẩu phần ăn hàng ngày, cơ thể cần bổ sung thêm các loại dược phẩm. Gần đây, Công ty CP Biolife đã cho ra đời sản phẩm UpKid từ công nghệ Bioenrich điều khiển quá trình nảy mầm của hạt đỗ xanh giúp chuyển hóa với hiệu suất tối đa khoáng chất vi lượng kẽm và selen vô cơ sang cấu trúc hữu cơ tự nhiên, dễ dàng hấp thu cho trẻ, không để lại chất dư thừa trong cơ thể. Công nghệ Bioenrich giúp tăng hàng nghìn lần hàm lượng khoáng vi lượng như kẽm, selen, sắt… trong mầm các loại đỗ.   (Nguồn: Công ty CP Biolife) Mọi thông tin xin liên hệ về: Văn phòng giao dịch Công ty Cổ phần Biolife Số nhà 12B/TT10, khu đô thị Văn Quán, P.Văn Quán, Hà Đông, Hà NộiTel/Fax: (04)33.544.828 hoặc (04).33.544.838 Website: www.biolife.vn Email: Địa chỉ email này đã được bảo vệ từ spam bots, bạn cần kích hoạt Javascript để xem nó. Hotline tư vấn: 0968.544.828 từ 16h đến 17h, Thứ 2 đến Thứ 6 hàng tuần (trừ ngày lễ, tết).Tư vấn online qua email xin vào đường dẫn sau. Mọi thắc mắc về chế độ dinh dưỡng cho bé nhà bạn sẽ được các chuyên gia tư vấn tận tình giúp đỡ. Hy vọng những thông tin trên sẽ giúp ích các bạn về việc cải thiện tình hình dinh dưỡng cho các bé nhà mình.

Bé 5 tuổi, nặng 14,5kg. Làm sao để bé tăng cân nhanh?

Thứ hai, 24 Tháng 9 2012 14:43

Ngày 24/09/2012 Nội dung câu hỏi: Bé nhà em 5 tuổi nhưng nặng có 14,5kg. Cháu rất lười ăn. Em cũng đã dung những sản phẩm hổ trợ như cốm bổ dưỡng, siro ..nhưng vẩn không có thay đổi gì. Em muốn hỏi bác sĩ trên thị trường hiện nay có loại sản phẩm nào đặc trị cho bé ăn tốt hơn và tăng cân không? Người hỏi: Đại Thị Đường - Vĩnh Phúc.

Đọc thêm...

Làm sao để bé ăn nhiều hơn?

Thứ hai, 24 Tháng 9 2012 14:25

Ngày 24/09/2012 Nội dung câu hỏi: Xin chào Bác Sĩ. Con trai tôi được 10,5 tháng tuổi nặng 8,7Kg nhưng cháu rất lười ăn, mỗi lần cho cháu ăn rất khó khăn vì cháu cứ nhìn thấy thức ăn là khóc và quay mặt đi bất kể đó là cháo, bột hay sữa nên mỗi lần cháu ăn được rất ít mà phải mất nhiều công và phải có 2 người mới có thể cho cháu ăn được, thậm chí có buổi có 1  người trông cháu thì cả buổi đó không thể cho chấu ăn được bữa nào cả, khoảng 3 tháng nay cháu gần như không tăng cân, hiện cháu đã mọc 3 răng. Rất mong được Bác sĩ tư  vấn giúp xem có cách nào để cháu chịu khó ăn hơn không ạ? Người hỏi: Chị Nguyễn Thị Anh - Hà Đông, Hà Nội.

Đọc thêm...

Có nên cho bé dùng cốm Upkid không?

Thứ hai, 24 Tháng 9 2012 14:13

Nội dung câu hỏi: Hiện bé trai nhà em được 9 tháng 8 ngày. Bé nặng 10kg, cao khoảng 80cm. Bé mới mọc được 2 chiếc răng. Ban đêm ngủ bé hay trằn trọc, lăn qua lăn lại, phải ti mẹ lâu lâu mới chịu ngủ lại. Mỗi đêm bé như vậy khoảng 3-4 lần. Sau gáy bé tóc mọc ít và thưa hơn đằng trước. Bé hay bị mụn nhỏ như rôm ở gáy. Ngày bé ăn 3 bữa bột, 400ml sữa công thức, 1 hộp váng sữa (55g), 1 viên phô mai con bò cười (8g). Em đang băn khoăn không biết chế độ ăn của bé như vậy có đủ không? Em có nên cho bé dùng thêm Cốm Upkid không? Người hỏi: Chị Dương Thị Thảo - Quế Võ, Bắc Ninh.

Đọc thêm...

Làm thế nào để cải thiện được tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ?

Thứ hai, 24 Tháng 9 2012 14:02

Ngày 24/09/2012 Nội dung câu hỏi: Bé gái nhà cháu được gần 19 tháng cân nặng chỉ có 8.5kg. Xin bác sĩ cho chế độ ăn hợp lý để cải thiện tình trạng suy dinh dưỡng của cháu bé? Người hỏi: Chị Phạm Thị Xuân Nụ - Hưng Yên.

Đọc thêm...

Bé lười ăn và ăn rất chậm, làm sao để cháu tăng cân?

tren bieng an 1

Thứ hai, 24 Tháng 9 2012 13:45

Con tôi năm nay 5 tuổi, nặng có 16kg. Cháu lười ăn và ăn rất chậm. Xin hỏi bác sĩ có cách nào cải thiện để cháu tăng cân được không ? (Chị Đào Phương Linh - Hà Nội)

Đọc thêm...

Trang 30/38

facebook skype 1900.2088

Hotline

1900.2088

Mua hàng