Blog
Kẽm và selen đối với sức khỏe trẻ nhỏ.
Thứ bảy, 17 Tháng 11 2012 08:16
Tình trạng thiếu kẽm và selen ở trẻ em đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Những bệnh lý nguy hiểm khi thiếu kẽm ở trẻ nhỏ Biểu hiện lâm sàng khi thiếu kẽm Thiếu kẽm nhẹ và vừa là tình trạng khá phổ biến. Có thể nhận thấy trên một số biểu hiện cụ thể sau: - Thiếu dinh dưỡng: chậm tăng trưởng, suy dinh dưỡng nhẹ và vừa, chậm tăng trưởng chiều cao, giảm tiết sữa… - Rối loạn tiêu hóa và chuyển hóa: trẻ có tình trạng suy giảm tiêu thụ năng lượng như chán ăn hoặc giảm ăn, giảm bú, không ăn thịt cá, chậm tiêu, táo bón nhẹ, buồn nôn và nôn kéo dài ở trẻ, buồn nôn và nôn (nghén) ở phụ nữ mang thai. - Rối loạn tâm - thần kinh: rối loạn giấc ngủ (trằn trọc khó ngủ, mất ngủ), thức giấc nhiều lần trong đêm, khóc đêm kéo dài; suy nhược thần kinh (đau đầu, thần kinh dễ bị kích thích, giảm trí nhớ); rối loạn cảm xúc (thờ ơ, lãnh đạm, trầm cảm, thay đổi tính tình. Bệnh còn có thể suy yếu hoạt động của não, mơ màng chậm chạp, hoang tưởng, mất điều hòa lời nói, rối loạn vị giác và khứu giác, khuyết tật, bại não, chậm phát triển tâm thần vận động... - Suy giảm khả năng miễn dịch: nhiễm trùng tái diễn ở đường hô hấp (viêm mũi họng, viêm phế quản tái đi tái lại), viêm đường tiêu hóa, viêm da, mụn bỏng, mụn mủ, viêm niêm mạc. - Tổn thương biểu mô: khô da, viêm da vùng mặt trước hai chi dưới, nám da, bong da, dày sừng và nứt gót da hai bên, viêm niêm mạc miệng, viêm lưỡi, vết thương lâu lành, dị ứng, loạn dưỡng móng, viêm mé móng, tóc giòn dễ gãy, hói tóc. - Tổn thương mắt: sợ ánh sáng, mất khả năng thích nghi với bóng tối, mù đêm, quáng gà, khô mắt, loét giác mạc. - Da ngứa ngáy: các triệu chứng kèm theo là vết thương khó lành và "hạt gạo" trên móng tay. Tình trạng này là do thiếu kẽm, chất giúp tạo ra các tế bào và enzyme mới cũng như cần cho việc làm lành vết thương. Biểu hiện lâm sàng khi thiếu selen - Dễ nhiễm trùng: đây là triệu chứng xảy ra thường xuyên, khi cơ thể thiếu selen - chất giúp tăng cường khả năng miễn dịch - bảo vệ tế bào khỏi thương tổn và có thể giúp chống bệnh ung thư. - Sắc tố da bị mất dần, thiếu hụt selen có thể gây rối loạn ở tim và bệnh lý của cơ. - Các trường hợp khác thiếu selen như bệnh keshan, một rối loạn tim nặng nề chủ yếu ở trẻ con và phụ nữ trong tuổi sinh đẻ. Bệnh keshan xuất hiện ở một số vùng của Trung Quốc, nơi có nồng độ selenium trong đất trồng rất thấp. Biếng ăn, suy giảm miễn dịch do thiếu kẽm và selen: Các nghiên cứu chỉ ra rằng: 26,5% trẻ từ 11 đến 17 tuổi thiếu kẽm; 50%-90% trẻ bị suy dinh dưỡng kéo dài thiếu kẽm; 51,9% trẻ từ 6 tháng đến 75 tháng tuổi thiếu kẽm; 15,9% trẻ em từ 11 đến 17 tuổi thiếu Selen; 75,6% trẻ em cấp 1 thiếu Selen; 62,3% trẻ em từ 12 đến 72 tháng tuổi ở nông thôn thiếu Selen. Tình trạng thiếu kẽm và selen ở trẻ em đang là vấn đề sức khỏe cộng đồng ở nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Theo đó, trên 50% trẻ từ 6 tháng đến 7 tuổi thiếu kẽm huyết thanh và selen tương đối. Nhóm gặp nguy cơ cao nhất là các bé từ 6 tháng đến 17 tháng tuổi và trẻ gặp vấn đề về suy dinh dưỡng, tiêu chảy. Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra những con số báo động khi hàm lượng selen huyết thanh thấp ở học sinh THCS là 15,9%, học sinh tiểu học là 75,6%, và trẻ mẫu giáo, mầm non 62,3%. Kẽm giúp duy trì, bảo vệ các tế bào vị giác và khứu giác. Vì thế thiếu kẽm sẽ gây biếng ăn do rối loạn vi giác, làm suy thoái quá trình phát triển và tăng trưởng bình thường ở trẻ. Thiếu kẽm, dấu hiệu thường thấy là ăn không ngon, vị giác bất thường, rụng tóc, tiêu chảy kéo dài. Thiếu Selen gây ức chế khả năng đề kháng chống nhiễm trùng, hậu quả của suy giảm chức năng bạch cầu và tuyến ức bởi selen đóng vai trò thiết yếu trong men Glutathione peroxidase. Nó ảnh hưởng tới mọi thành phần của hệ miễn dịch, sự phát triển và hoạt động của bạch cầu. Đặc biệt, việc thiếu selen trong chế độ ăn lâu dài khiến người lớn và trẻ nhỏ có nguy cơ bị ung thư, bệnh tim và suy giảm miễn dịch. Theo khuyến nghị, bé dưới một tuổi nên được bổ sung khoảng 5 mg một ngày; trẻ 1-10 tuổi khoảng 10 mg một ngày; thanh thiếu niên và người trưởng thành khoảng 15 mg một ngày đối với nam và 12 mg một ngày đối với nữ. Ngoài ra, trẻ 0-6 tháng có nhu cầu selen là 6 mcg một ngày; trẻ 7-12 tháng là 10 mcg một ngày; trẻ 1-3 tuổi là 17 mcg một ngày; trẻ 4-9 tuổi khoảng 20 mcg một ngày; đối với thanh thiếu niên 10-18 tuổi nhu cầu là 26 mcg một ngày ở nữ và 32 mcg một ngày ở nam. Bổ sung kẽm và selen như nào cho đúng: - Nguồn cung cấp kẽm và selen cho cơ thể có trong nhiều loại thực phẩm. Trong đó, thức ăn nhiều kẽm là tôm đồng, lươn, hàu, sò, gan lợn, sữa, thịt bò, lòng đỏ trứng, cá, đậu nành, các hạt có dầu (hạnh nhân, hạt điều, đậu phộng..). Ngoài kẽ, hàm lượng selen cũng có nhiều trong cá, hải sản (20,8 - 40,5 mcg/100 gram) và trứng (40,2 mcg-14,9 mcg/100 gram), vừa phải ở thịt gia cầm, đậu hạt và thấp ở sữa bò, ngũ cốc, rau và hoa quả. - Cốm bổ dưỡng Upkid: Bổ sung kẽm và selen tự nhiên có nhiều tính năng ưu việt hơn kẽm và selen tổng hợp • Rất thân thiện với cơ thể, đặc biệt là trẻ nhỏ. • Khả năng hấp thu gần như hoàn toàn tới 90% (trong khi kẽm và selen tổng hợp hấp thụ tối đa 27%). • Không để lại lượng dư thừa trong cơ thể. • Không gây kích ứng niêm mạc và bao tử. Không gây buồn nôn như dạng tổng hợp. Công nghệ Bioenrich giúp tăng hàng nghìn lần hàm lượng khoáng vi lượng như kẽm, selen, sắt, … trong mầm các loại đỗ. Gần đây, Công ty CP Biolife đã cho ra đời sản phẩm UpKid từ công nghệ Bioenrich (www.biolife.vn) điều khiển quá trình nảy mầm của hạt đỗ xanh giúp chuyển hóa với hiệu suất tối đa khoáng chất vi lượng kẽm và selen vô cơ sang cấu trúc hữu cơ tự nhiên thân thiện với cơ thể của trẻ nhỏ, tăng khả năng hấp thu hoàn toàn tới 90%, không để lại dư thừa trong cơ thể. Theo Phó giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Lâm - Phó Viện trưởng, Viện dinh dưỡng Quốc gia
Dị ứng thức ăn ở lứa tuổi ăn sam
Thứ sáu, 16 Tháng 11 2012 10:20
Lứa tuổi ăn sam (Ăn bổ sung, ăn dặm) bắt đầu từ khi trẻ được 6 tháng tuổi, thời kì này một mình sữa mẹ không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng do cơ thể trẻ phát triển rất nhanh. Đây cũng là giai đoạn trẻ mắc các bệnh nhiễm khuẩn do kháng thể thụ động từ mẹ truyền sang ở thời kì thai nhi giảm dần, trẻ bắt đầu tiếp xúc nhiều với môi trường xung quanh, trẻ tập ăn những thức ăn khác ngoài sữa mẹ, chính vì vậy nguy cơ dị ứng thức ăn thường hay gặp ở một số trẻ có cơ địa dị ứng. ảnh minh họa Những thực phẩm nào hay gây dị ứng? Tất cả những thực phẩm có chứa protein(chất đạm) nguồn gốc động vật đều có thể gây dị ứng nhưng hay gặp nhất là sữa động vật (sữa bò, dê, trâu) các loại hải thủy sản: tôm, cua, cá hoặc nhộng, trứng... Dị ứng sữa động vật : do protêin trong sữa các loại động vật khác với protein trong sữa mẹ về thành phần và số lượng nên một số trẻ ăn vào có thể bị dị ứng. Biểu hiện của dị ứng sữa: Trẻ bị tiêu chảy, nổi mề đay, mẩn ngứa, một số trẻ có biểu hiện bằng nôn liên tục. Một số trẻ thiếu men lactaza nên không hấp thu được đường lactoza trong sữa bò cũng gây tiêu chảy. Gặp những trường hợp này nên dừng lại không cho trẻ ăn sữa bò, dùng sữa đậu tương thay thế hoặc làm sữa chua cho trẻ ăn.Dị ứng các loại hải thuỷ sản: Tôm, cua, cá: Sau khi ăn các loại thực phẩm này, trẻ bị nổi mề đay, sẩn ngứa, một số trẻ có thể bị tiêu chảy, nên ngừng ngay các loại thực phẩm này, sau đó có thể tập cho trẻ ăn dần từng ít một, nếu vẫn bị dị ứng thì không cho trẻ ăn các loại thực phẩm này nữa. Dị ứng trứng: thường ít gặp hơn các loại trên, khi ăn trứng cũng có trẻ có các biểu hiện của dị ứng như : nổi mề đay, mẩn ngứa, tiêu chảy...cũng tập cho trẻ ăn dần từng ít một, hoặc chế biến dưới dạng caramen (trứng sữa hấp) cho trẻ ăn thì có thể không bị dị ứng nữa. Nếu vẫn dị ứng thì không cho trẻ ăn tiếp và thay thế bằng loại thức ăn khác. BS. Lê Hằng - Đặc san dinh dưỡng Sức khỏe & Đời sống
Khi nào có thể cho bé ăn hải sản?
Thứ sáu, 16 Tháng 11 2012 10:15
Trừ các loại hải sản có vỏ, bạn có thể cho bé ăn cá ở dạng bột sệt hoặc nghiền nhuyễn ngày từ 6 tháng tuổi khi bé bắt đầu ăn dặm. Tuy nhiên do đạm trong hải sản nói chung cũng như cá thường hay gây dị ứng cho trẻ vì vậy nên cho bé ăn từ tháng thứ 7 trở đi là tốt nhất, nhưng điều quan trọng là cho ăn từ từ ít một cho bé thích nghi dần, với những trẻ có cơ địa dị ứmg thì các bà mẹ cần phải thận trọng hơn Nên cho bé ăn những loại hải sản nào ? Trong số các loại hải sản, cá biển là thực phẩm tuyệt vời đối với sức khoẻ do chứa đạm có giá trị sinh học cao với tỷ lệ cân đối, phù hợp với cơ thể người. Cá còn rất giàu chất béo không no omega-3 cần để tạo màng tế bào thần kinh và có tác dụng phòng chống bệnh tim mạch. Do đó, ăn cá ít nhất 3 lần/tuần rất có lợi cho sức khoẻ. Gan cá còn rất giàu vitamin A và D. Hàu thì rất giàu kẽm là thành phần của hơn 300 enzyme bên trong cơ thể, là chất cần thiết để trẻ tăng trưởng, và cũng rất cần để phát triển hệ sinh dục. Hầu hết các loại hải sản đều giàu canxi (nhất là các loại cá nhỏ ăn được cả xương) nên rất cần cho xương và răng. Nhưng nếu không biết lựa chọn, bảo quản, chế biến hải sản đúng cách và ăn có mức độ thì có thể “lợi bất cập hại”. Ảnh minh họa Cá đồng tuy không chứa nhiều các axit béo chưa no như các biển, nhưng cá đồng cũng chứa nhiều chất đạm quí, dễ hấp thu, lại ít gây dị ứng hơn cá biển, vì vậy khi mới bắt đầu ăn cá các bà mẹ nên cho ăn cá đồng trước, nên chọn cá nạc ít xương như : cá quả, cá trắm, cá trê.. Cá biển nên ăn cá hồi, cá thu, cá ngừ, cá basa các loại cá này chứa nhiều omega 3 ( các axit béo chưa no rất tốt cho sự phát triển thần kinh và thị giác của trẻ, phát triển trí não giúp bé thông minh hơn) Tôm cũng là thức ăn giàu đạm và canxi, từ tháng thứ 7 trở di các bà mẹ có thể cho con ăn tôm đồn, tôm biển Cua đồng là thức ăn chứa hàm lượng canxi cao, vì vậy nên cho trẻ ăn thường xuyên để cung cấp canxi cho trẻ. Các loại hải sản có vỏ như : hàu, ngao, hến, trai … nên cho bé ăn khi đã 1 tuổi, dùng nước nấu cháo, còn thith xay băm nhỏ, các laọi hải sản này chứa nhiều kẽm, một vi chất quan trọng đối với trẻ em. Hải sản thường giàu đạm và các dưỡng chất cần thiết khác. Hải sản cũng rất ít chất béo no và chứa axit béo không no omega-3, là chất béo thiết yếu cho cơ thể. Hải sản còn giàu vitamin (đặc biệt là vitamin nhóm B) và khoáng chất (canxi, kẽm, sắt, đồng, kali…). Do đó, hải sản sẽ góp phần đa dạng cho chế độ ăn cân đối, khoẻ mạnh và giúp trẻ tăng trưởng. Tuy nhiên, hải sản cũng ẩn chứa một số nguy cơ đối với sức khoẻ. Những loại hải sản nào không nên cho bé ăn ? Một số loại cá chứa hàm lượng thủy ngân và các chất ô nhiễm cao. Nên tránh ăn cá mập, cá kình, cá lưỡi kiếm (cá cờ), cá thu lớn, cá ngừ lớn. Điều quan trọng nhất là khi cho bé ăn hải sản các bà mẹ phải chọn laọi còn tươi, không ăn hải sản đã chết vì dẽ gây ngộ độc thức ăn cho bé. Cách chế biến hải sản như thế nào ? Cách chế biến hải sản không đúng cũng có thể gây bất lợi cho cơ thể bé . Hải sản chế biến chưa chín hẳn (gỏi cá sống, hàu sống, sò, mực nướng…) có thể ẩn chứa vi trùng và ký sinh trùng. Đó là nguyên nhân của không ít trường hợp nhiễm trùng đường ruột khi ăn hải sản. Ngày nay, khi môi trường ngày một ô nhiễm thì một nguy cơ nữa phải kể đến khi ăn nhiều hải sản là khả năng nhiễm kim loại nặng như thuỷ ngân. Khi trẻ còn trong giai đoạn ăn bột và cháo : tốt nhất là xay, nghiền nhỏ cá, tôm để nấu bột hoặc cháo, nếu là cá đồng nhiều xương, bạn nên luộc chín cá rồi gỡ xương, cá biển nạc có thể xay sống như xay thịt rồi cho vào nấu bột, nấu cháo cho bé, với cua đồng thì giã lọc lấy nước để nấu bột, cháo, tôm to thì bóc vỏ sau đó xay hoặc băm nhỏ, với tôm quá nhỏ có thể giã lọc lấy nước như nấu bột cua. Với các loại hải sản có vỏ thì luộc chín lấy nước nấu cháo, bột , thịt xay băm nhỏ cho vào cháo, bột Trẻ đã lớn hơn từ 3 tuổi trở lên : ngoài ăn các loại cháo, mỳ, miến… nấu với hải sản có thể cho bé ăn dạng luộc hấp : cua luộc, ghẹ hấp, luộc, ngao hấp… Điều quan trọng nhất là phải nâú chín kỹ không cho trẻ ăn gỏi cá, hoặc nấu chưa chín kỹ. Lượng hải sản ăn bao nhiêu là đủ ? Ngày nào bạn cũng có thể cho bé ăn 1 – 2 bữa từ hải sản, nhưng tuỳ theo tháng tuổi mà lượng ăn mỗi bữa khác nhau : Trẻ 7 – 12 tháng : mỗi bữa có thể ăn 20 – 30 thịt của cá, tôm ( đã bỏ xương, vỏ ) nấu với bột, cháo, mỗi ngày có thể ăn 1 bữa, tối thiểu ăn 3 – 4 bữa/tuần Trẻ 1 -3 tuổi : mỗi ngày ăn 1 bữa hải sản nấu với cháo hoặc ăn mỳ, bún , súp…mỗi bữa ăn 30 - 40 g thịt của hải sản Trẻ từ 4 tuổi trở lên : có thể ăn 1 – 2 bữa hải sản/ngày, mỗi bữa có thể ăn 50 – 60g thịt của hải sản, nếu ăn ghẹ có thể ăn ½ con/bữa, tôm to có thể ăn 1 – 2 con/bữa (100g cả vỏ). Với những lợi ích về dinh dưỡng không thể chối cãi của các loại hải sản các bà mẹ nên cho bé ăn hàng ngày, nhưng phải tập cho bé ăn ít một, từ ít đến nhiều, chọn loại tươi ngon, chế biến nấu chín kỹ để tránh ngộ độc thức ăn ở trẻ. Ths. BS Lê Thị Hải
Đậu tương – “Vua của các loại đậu”
Thứ tư, 14 Tháng 11 2012 08:35
Đậu tương được gọi là "vua của các loại đậu". Nhiều chuyên gia dinh dưỡng khuyên rằng, ăn đậu tương, các sản phẩm từ đậu hoặc uống một ly sữa đậu nành mỗi ngày sẽ rất có lợi cho sức khỏe con người. Đậu tương có chứa một hàm lượng lớn các chất dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe hiệu quả. Dưới đây là 10 lợi ích của đậu tương đối với sức khỏe: Tăng cường chức năng miễn dịch Đậu tương chứa hàm lượng lớn protein thực vật, do đó nó đã được coi là "thịt thực vật". Nếu cơ thể con người thiếu protein, sẽ dẫn đến mất khả năng miễn dịch, mệt mỏi và xuất hiện các triệu chứng khác. Ăn đậu không chỉ bổ sung protein cho cơ thể mà còn tránh tăng cholesterol do ăn thịt. Cải thiện trí óc Đậu tương có chứa một số lượng lớn lecithin, đó là một trong những thành phần quan trọng của não bộ. Ăn nhiều đậu tương có thể giúp ngăn ngừa bệnh Alzheimer. Ngoài ra, lecithin, sterol, tăng chức năng thần kinh và sức sống. ảnh minh họa Tăng cường các mô và các cơ quan trong cơ thể Lecithin trong đậu tương cũng có thể thúc đẩy sự hấp thu các vitamin tan trong chất béo, các mô cơ thể mạnh mẽ và các cơ quan. Ngoài ra, nó có thể làm giảm cholesterol và cải thiện chuyển hóa lipid và phòng ngừa và điều trị xơ cứng động mạch vành. Cải thiện năng lượng Protein có trong đậu tương có thể làm tăng sự phấn khích và chức năng ức chế của vỏ não, nâng cao hiệu quả việc học tập và làm việc. Đồng thời, nó cũng có thể giúp làm giảm bớt căng thẳng và tâm trạng buồn rầu. Làm trắng và chăm sóc da Đậu tương chứa hàm lượng lớn isoflavone. Loại estrogen thực vật này không chỉ giúp làm chậm lão hóa da, mà có có thể làm giảm bớt hội chứng mãn kinh. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã phát hiện ra rằng, đậu tương có chứa axit linoleic, có thể ngăn chặn sự tổng hợp melanin trong tế bào da. Ngăn ngừa ung thư Đậu tương có chứa chất ức chế protease inhibin. Theo các nhà khoa học thuộc Đại học New York, nó có thể ức chế nhiều loại bệnh ung thư, đặc biệt là ung thư vú. Ngăn chặn quá trình oxy hóa Đậu tương có tác dụng chống oxy hóa, có thể loại bỏ các gốc tự do trong cơ thể con người. Đồng thời, nó cũng có thể ức chế sự tăng trưởng của tế bào khối u, và tăng cường chức năng miễn dịch của cơ thể. Giảm mỡ máu Các sterol thực vật có trong đậu tương có tác dụng làm giảm cholesterol trong máu. Nó có thể cạnh tranh với cholesterol trong ruột và làm giảm sự hấp thu cholesterol. Bên cạnh đó, nó có thể làm giảm mức độ "cholesterol xấu" ở bệnh nhân tăng lipid máu, mặt khác, nó sẽ không ảnh hưởng đến "cholesterol tốt" trong máu. Đậu tương có tác dụng hiệu quả trong việc làm giảm mức độ cholesterol. Ngăn chặn điếc Bổ sung sắt có thể mở rộng các mao mạch, làm mềm các tế bào máu đỏ, và đảm bảo nguồn cung cấp máu trong tai, do đó, nó có thể có hiệu quả ngăn ngừa mất thính giác. Đậu tương có chứa sắt và kẽm nhiều hơn nữa hơn so với thực phẩm khác. Đậu tương đóng một vai trò quan trọng trong công tác phòng chống điếc cho người cao tuổi. Giảm huyết áp Các nhà khoa học Mỹ đã phát hiện ra rằng, những người có xu hướng bị huyết áp caolà do có quá nhiều natri trong khi quá ít kali. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, ăn thức ăn giàu kali có thể làm mất đi lượng muối natri trong cơ thể. Đậu tương có tác dụng giảm huyết áp. Đậu tương giàu kali. Mỗi 100 gram đậu tương chứa nhiều như 1503 mg kali. Do đó, bệnh nhân bị cao huyết áp nên ăn đậu tương, để có thể bổ sung đủ kali cho cơ thể của họ. Tuy nhiên, thực tế lại có một số thông tin trái chiều về ảnh hưởng của đậu tương đến việc sinh sản, giảm khả năng sản sinh tinh trùng ở nam giới nếu dùng quá nhiều. Thế nhưng, những kết luận đó lại không đưa ra được những bằng chứng xác thực về cơ sở khoa học đã nghiên cứu, chính vì thế, một liều dùng vừa đủ, sử dụng hợp lý với loại thực vật bổ dưỡng này cũng là một cách để chúng ta tăng cường sức khỏe.
Thêm dầu oliu vào bột cho con: tưởng dễ mà khó
Thứ tư, 14 Tháng 11 2012 08:24
Khi nào nên thêm dầu oliu vào bột ăn dặm cho con? Thêm bao nhiêu là đủ và nêm như thế nào để dầu không bị mất chất là điều không phải mẹ nào cũng biết. 1. Về thời điểm bắt đầu nêm dầu vào bột ăn dặm cho con, bạn có thể hỏi trực tiếp bác sĩ. Thường có thể nêm dầu vào bát bột cho bé từ khi bé được 6 tháng tuổi. Theo hướng dẫn của Viện Hàn lâm nhi khoa Mỹ, UNICEF Và tổ chức Y tế thế giới, bé dưới 6 tháng tuổi có thể nhận được đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết từ sữa mẹ hoặc sữa công thức. 2. Dầu olive chứa chất béo không bão hòa đơn, loại chất béo có lợi, giúp giảm cholesterol xấu, tăng cường cholesterol tốt. Dầu olive chứa các axit linoleic và linolenic (axit cũng có trong sữa mẹ) giúp ích cho tăng trưởng và phát triển của xương. Các axit oleic trong dầu olive (cũng hiện diện trong sữa mẹ) giúp hỗ trợ sự tăng trưởng và phát triển của não bộ của bé. 3. Ngoài ra, dầu olive có tính chất chống viêm, có tác dụng ngăn chặn hoặc hạn chế mức độ nghiêm trọng của hen suyễn; có tác dụng nhuận tràng nhẹ, tránh táo bón và giúp bé đi tiêu đều đặn. Tất nhiên, không được lạm dùng dầu olive vì quá nhiều dầu sẽ dẫn tới tiêu chảy. Với một bát bột nhỏ cho bé mới ăn dặm thì không nên nêm quá ½ đến ¼ thìa cafe dầu olive. 4. Do dầu olive có nhiều kalo nên đôi khi, nó được bác sĩ chỉ định cho bé sơ sinh thiếu cân hoặc thiếu tháng. 5. Do dầu olive hiếm khi gây ra phản ứng dị ứng nên khá an toàn cho bé mới ăn dặm. Tuy nhiên, cần lưu ý là dầu olive là chất béo tốt nhưng cần cho bé ăn điều độ. Với một bát bột nhỏ cho bé mới ăn dặm thì không nên nêm quá ½ đến ¼ thìa cafe dầu olive. Nếu đã nêm dầu olive thì không cần nêm thêm bơ hay phômai đun chảy vào bát bột. 6. Nên nêm dầu olive sau khi đã nấu nướng vì dầu dễ bị mất chất do nhiệt. Có thể trộn dầu vào rau như súp lơ xanh, khoai tây nấu chín nghiền nhuyễn hoặc củ quả sống như món salad, tùy vào độ tuổi của bé. Khuấy đều dầu olive vào món khoai lang hấp chín, dầm nhuyễn sẽ rất ngon
Bột khoai lang trị biếng ăn cho trẻ?
Thứ tư, 14 Tháng 11 2012 08:19
Nhiều mẹ rỉ tai nhau rằng khoai lang là 'thần dược' với trẻ biếng ăn Hiện nay, trên một số diễn đàn như webtretho, lamchame, chocon…, nhiều chị em đang xôn xao về phương pháp trị biếng ăn cho trẻ bằng công thức chứa bột khoai lang. Người thì tin "sái cổ", người lại tỏ ý nghi ngờ, vậy đâu là thông tin chuẩn? Tràn lan các công thức tự chế Mẹ bé Bin, một trong những thành viên trung thành của các diễn đàn này chia sẻ: “Món này cu nhà mình ăn hoài à, tháng trước đi cân Bin đã tăng được 2kg nhờ ăn khoai lang đấy. Khoai lang dễ nấu lắm, có thể nấu chung với cháo trắng, thành món hỗn hợp khi nấu vẫn cho thịt, cá, dầu ăn, khiến trẻ đủ dinh dưỡng, mà khoai lang lại nhiều chất pectin giúp bé dễ tiêu hóa”. Khoai lang ngon miệng dễ ăn nhưng ăn không dễ Chị Hằng, mẹ bé Su Su 20 tháng tuổi ở Hoàng Hoa Thám, Hà Nội cũng chia sẻ: “Bé nhà tôi thuộc diện biếng ăn, nên tôi tìm mọi cách để cháu ăn nhiều hơn. Nhưng càng cố ép, bé càng nôn trớ, nên tôi đành chịu. Hôm trước, tôi đọc được thông tin cho bé ăn khoai lang, đặc biệt là khoai lang vàng sẽ giúp trị chứng biếng ăn, nhưng thực hư thế nào cũng chưa nắm được nên tôi vẫn hoang mang chưa dám cho con ăn thử”. Chưa có minh chứng khoa học Trước những thông tin trên, BS. Bùi Quang Sáng, Chủ nhiệm khoa Dinh Dưỡng, BV Quân Y 354 Hà Nội cho biết: Khoai lang chứa nhiều chất xơ, protein, các vitamin A, C, B6, E, sắt, calci… thuộc hàng cao nhất so với các loại rau củ khác, trên cả khoai tây. Tuy nhiên, việc cho trẻ ăn khoai lang để trị biếng ăn chỉ là thông tin truyền miệng, cho đến nay vẫn chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh về điều đó. Ngoài ra, việc các mẹ cho trẻ ăn quá nhiều khoai lang có thể gây tới những tác động tiêu cực với hệ tiêu hóa của trẻ, vì khoai lang có lượng xơ rất cao, nếu ăn thay lương thực cho đủ calorie tương ứng thì lượng xơ cao sẽ khiến bé dễ bị đầy hơi, trướng bụng… BS. Bùi Quang Sáng khuyến cáo: Khoai lang có nhiều loại như ruột vàng, ruột đỏ, ruột trắng… Nếu các bà mẹ muốn bổ sung thêm khoai lang cho trẻ để tạo cảm giác lạ miệng, dễ ăn thì nên chọn loại vỏ đỏ ruột vàng, nếu để giải cảm và chữa táo bón thì dùng khoai vỏ trắng, ruột trắng. Có một điều các mẹ cũng cần chú ý, khi dùng khoai, nhất thiết phải rửa sạch vỏ, loại bỏ đi các phần hà, thối. Vỏ khoai lang chứa nhiều vitamin và khoáng chất, nên khi chế biến tránh gọt vỏ khoai quá dày sẽ làm mất đi lớp protein trong khoai vốn chỉ tồn tại ở sát vỏ. Khi làm bột cho trẻ, tốt nhất bạn nên luộc khoai cho chín, rồi bóc vỏ trước khi ăn. Tuyệt đối không cho trẻ ăn những loại khoai lang đã lên mầm, vì mầm khoai có chứa chất acaloit khi ăn vào sẽ tích lũy trong cơ thể gây ngộ độc. Chất acaloit này tuy không gây ra những biểu hiện tức thời, nhưng về lâu dài sẽ khiến làn da trông xanh xao, nhợt nhạt, sức khỏe kém. Đặc biệt, với trẻ nhỏ do đề kháng kém, nếu ăn nhiều vỏ khoai mọc mầm sẽ dẫn đến nhiễm độc mạn tính, làm giảm khả năng thải độc của cơ thể. (Theo Sức khỏe Gia đình)
9 cái "dại" của mẹ khi chăm bé sơ sinh
Thứ ba, 13 Tháng 11 2012 08:43
Băng kín rốn là 1 trong những lỗi khó tha thứ của mẹ khi chăm sóc "thiên thần" nhỏ. Phải nói ngay rằng, việc chăm sóc trẻ sơ sinh, nhất là đối với những người lần đầu làm mẹ không hề đơn giản. Vì vậy, mắc lỗi là chuyện dễ hiểu. Để giúp các mẹ ‘lão luyện’ hơn khi chăm bé, những chuyên gia Nhi khoa giàu kinh nghiệm nhất khuyên: 1. Mẹ "dại" khi nuôi bé trong môi trường "vô trùng" Đảm bảo vệ sinh cho bé sơ sinh là việc làm cần thiết nhưng "thái quá" cũng không tốt. Nhiều bà mẹ trẻ, vì quá lo lắng nên thường nuôi bé ở chế độ "vô trùng" – cách ly bé với môi trường bên ngoài, hạn chế người thân hoặc bạn bè bế ẵm... Theo khuyến cáo của các chuyên gia Nhi khoa, bé dưới 6 tháng tuổi có hệ hô hấp và miễn dịch chưa phát triển toàn diện nên việc tránh cho bé tiếp xúc với đám đông, người lạ là hiển nhiên. Tuy vậy, cũng không cần kiêng khem gắt gao và tuyệt đối không "nhốt" bé trong phòng 24/24 để bé bị cớm nắng (thiếu ánh sáng mặt trời). 2. Mẹ "dại" khi cho bé ăn bổ sung không đúng độ tuổi Cho bé ăn bổ sung không đúng độ tuổi, gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe của bé. Cho trẻ ăn bột sớm quá (trước 4-6 tháng tuổi) hoặc quá nhiều so với tháng tuổi (mới 5-6 tháng đã cho ăn tới 4 bữa bột/ngày) là hoàn toàn không tốt cho hệ tiêu hóa của trẻ. Trẻ ăn không tiêu, sinh tướt, đi ngoài phân sống, dần dần bị viêm ruột già, đi tiểu ra máu, lâu dài sẽ sinh rối loạn tiêu hóa. Ngược lại, khi trẻ ngoài 4-6 tháng tuổi mà vẫn chưa được ăn thêm thì không chóng lớn. 3. Mẹ "dại" khi chọn quần áo cho bé theo sở thích của mình Không ít ông bố, bà mẹ có thói quen chọn quần áo cho bé theo 'gu' thời trang của bản thân, khiến đồ mặc cho bé khi thì quá rộng, lúc lại quá chật. Theo khuyến cáo, cơ thể bé còn non nớt, vì thế, nên chọn những loại quần áo mềm, thoát khí… 4. Mẹ "dại" khi để bé tiếp cận trò chơi nguy hiểm Cho trẻ dùng đồ chơi không hợp với tuổi hoặc có chứa chất độc hại… nhất là khi trẻ nghịch và ngậm vào miệng, thậm chí có trường hợp nuốt vào bụng… là lỗi điển hình của rất nhiều phụ huynh. Với bé, mẹ nên chọn những đồ chơi đơn giản, phù hợp độ tuổi và có tác dụng làm tăng IQ, loại bỏ đồ chơi có chứa chì và các hóa chất độc hại – 'thủ phạm' gây tổn thương não bộ và suy giảm trí nhớ ở trẻ em. Ảnh minh họa. 5. Mẹ "dại" khi đặt bé nằm ngủ sấp Rất nhiều bà mẹ vô ý đặt bé nằm sấp khi ngủ, phía dưới kê đệm mềm. Đây là một sai lầm cần tránh vì nó là 'hung thần' gây Hội chứng đột tử (SIDS) ở trẻ sơ sinh. 6. Mẹ "dại" khi cung cấp thiếu nước cho bé Khi trẻ không quấy khóc, mẹ có thói quen không cho trẻ uống nước vì cho rằng, trẻ không khóc nghĩa là 'ok' - không cần ăn, uống. Sự thật, nên huấn luyện trẻ làm quen với việc ăn uống theo lịch và thường xuyên bổ sung nước cho trẻ. Học cách nhận biết khi nào trẻ no, ví như: nếu trong tuần đầu tiên tã ướt 6 lần/ngày thì được xem là bình thường, ngược lại, nếu ít hơn là có vấn đề, cần đưa trẻ đi khám bác sĩ ngay. 7. Mẹ "dại" khi tự làm bác sĩ kê đơn cho con Khi bé ốm, các mẹ dễ mất tinh thần, cho bé uống bất kỳ thứ thuốc nào được mách bảo (kể cả lời khuyên từ những người không có chuyên môn y khoa). Việc này thực tế có thể khiến bé bệnh nặng hơn. Thuốc kháng sinh không phải là ‘thần dược’ với trẻ nhỏ, nhất là khi chỉ dùng riêng một loại thuốc này, nó không có tác dụng trị bệnh do virus gây ra. Ngoài ra, dùng kháng sinh cho trẻ sơ sinh còn gây hại, không khỏi bệnh mà còn tạo ra hiện tượng kháng thuốc. Khi trẻ ốm đau, nhất thiết phải nhờ tư vấn và dùng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sĩ. 8. Mẹ "dại" khi cho bé uống nước cam thảo Còn rất nhiều mẹ hiểu sai rằng, cho trẻ uống nước cam thảo giúp trẻ ọc sạch đờm nhớt. Sự thật, uống nước cam thảo sẽ làm tăng nguy cơ xuất huyết gây nguy hiểm tới tính mạng của trẻ 9. Mẹ "dại" khi băng kín rốn của bé Nhiều người nghĩ rằng băng kín rốn giúp bảo vệ rốn. Nhưng trái lại. việc băng kín rốn sẽ tạo môi trường tốt cho vi trùng phát triển, gây nhiễm trùng rốn và chậm rụng rốn. Do đó, cha mẹ nên để hở rốn sau khi chăm sóc rốn, quấn tã dưới rốn và chỉ phủ lớp mỏng áo lên rốn để dễ quan sát. Việc làm này, giúp rốn mau khô, nhanh rụng, ít nhiễm trùng và ít tạo chồi rốn. Sưu tầm
Sữa mẹ giúp trí não bé hoàn thiện nhanh hơn
Thứ ba, 13 Tháng 11 2012 08:39
Theo các chuyên gia dinh dưỡng, sữa mẹ là loại thực phẩm tốt nhất cho trẻ nhỏ, giúp trẻ hoàn thiện về thể chất và trí não và tinh thần. Cơ quan Y tế Canada và Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đề xuất, các bà mẹ nên sử dụng sữa mẹ như là loại thực phẩm và thức uống duy nhất cho trẻ trong sáu tháng đầu đời, và tiếp tục sử dụng kèm với các loại thực phẩm khác cho tới khi trẻ được hai tuổi hoặc lớn hơn. Theo đánh giá của giới chuyên môn, sữa mẹ là loại thực phẩm tốt nhất trong việc giúp trẻ phát triển thể chất và trí não. Nó là loại sản phẩm tự nhiên và độc nhất của các bà mẹ dành cho đứa con. Khi trẻ lớn lên, sữa mẹ sẽ thay đổi để phù hợp với nhu cầu phát triển của trẻ và là sữa luôn là thực phẩm dễ tiêu thụ nhất với trẻ. Sữa mẹ có chứa đủ lượng protein, carbohydrate, chất béo, các loại vitamin, khoáng chất cũng như các chất kháng thể giúp tăng cường hệ miễn dịch, giúp bảo vệ cơ thể trẻ chống lại các chứng bệnh do nhiễm trùng (những lợi ích này theo trẻ đến suốt cuộc đời). Các chuyên gia đề xuất, những đứa bé được nuôi bằng sữa mẹ cần cung cấp thêm nguồn bổ sung vitamin D, nhằm ngăn ngừa tình trạng thiếu hụt vitamin D có thể dẫn đến bệnh còi xương. Khi những đứa bé bắt đầu nhận đủ nguồn vtamin D từ các loại thực phẩm trong chế độ ăn hằng ngày, bạn có thể ngừng cung cấp nguồn bổ sung này cho trẻ. Rất hiếm trường hợp các bà mẹ không được nuôi con bằng sữa mẹ. Ngay cả trong trường hợp bạn hút thuốc, vẫn có thể cho trẻ bú, nhưng bạn cần xem xét đến việc giảm bớt hoặc bỏ hẳn thuốc trong suốt giai đọan này. Bạn cũng nên tránh uống rượu. Nếu bạn bị đau ốm hoặc đang sử dụng thuốc, hãy tham khảo ý kiến của bác sĩ khi muốn cho trẻ bú. Sữa mẹ là nguồn tự nhiên, nhưng cũng cần phải mất một thời gian để người mẹ và đứa trẻ quen dần với việc cho trẻ bú. Theo giới chuyên môn, có thể phải mất sáu tuần để thiết lập thói quen bú mẹ ở trẻ và sau đó hãy tiếp tục nuôi trẻ bằng sữa mẹ. Điều này rất quan trọng đối với quá trình phát triển thể chất cũng như trí não của trẻ. Dù có đang cho con bú hay không, bạn cũng cần nhớ rằng, việc cho trẻ bú là một cơ hội tốt để tạo sự gắn kết thiêng liêng của tình mẫu tử. Các bà mẹ có thể nhận được nhiều trải nghiệm thú vị khi cho trẻ bú bằng việc ôm ấp bé vào lòng, nói chuyện dịu dàng và nhìn vào đôi mắt ngây thơ, trong vắt của bé. Sưu tầm
Thời điểm tốt nhất trong ngày cho bé ăn sữa chua
Thứ hai, 12 Tháng 11 2012 11:29
Các mẹ nên cho bé ăn sữa chua sau khi ăn khoảng nửa tiếng. Vì các vi khuẩn có lợi trong sữa chua hoạt động tốt nhất vào thời điểm này. Các vi khuẩn có lợi trong sữa chua chỉ tồn tại ở điều kiện độ pH lớn hơn hoặc bằng 5,4. Khi đói, độ pH trong dạ dày chỉ bằng 2, các vi khuẩn có lợi trong sữa chua sẽ bị tiêu diệt, giảm tác dụng đối với cơ thể. Sau khi ăn, dạ dày co bóp mạnh, độ pH có thể tăng lên từ 3 đến 5, đây là điều kiện lý tưởng cho các vi khuẩn có lợi trong sữa chua hoạt động. Vì vậy sau khi ăn là thời điểm lý tưởng nhất mẹ nên cho bé ăn sữa chua. Các lợi ích của sữa chua - Tăng khả năng miễn dịch Các vi khuẩn có lợi trong sữa chua được chứng minh là giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng, chống các khối u ở bé cũng như ở người trưởng thành. - Giúp nhanh phục hồi sau rối loạn đường ruột Một số virus gây rối loạn tiêu hóa có thể làm tổn thương niêm mạc ruột của bé, đặc biệt là các tế bào sản xuất lactase. Điều này có thể khiến bé tạm thời kém hấp thu lactose. Đây là lý do vì sao các bé không uống được sữa thường khoảng 1-2 tháng sau nhiễm trùng đường ruột. Tuy nhiên, sữa chua lại khác. Sữa chua chứa ít lactose và nhiều lactase, được biết như một loại "thuốc" chữa bệnh đường ruột, an toàn ngay cả khi bé mắc tiêu chảy. Nghiên cứu cho thấy, các bé hồi phục nhanh hơn từ tiêu chảy khi ăn sữa chua. Đặc biệt, cha mẹ nên cho con ăn sữa chua trong quá trình bé phải dùng thuốc kháng sinh. Bởi vì, sữa chua giúp giảm tác hại của kháng sinh tới những vi khuẩn trong đường ruột. - Dồi dào protein Một hộp sữa chua có thể chứa 10-14g protein. Bên cạnh đó, do quá trình lên men, protein trong sữa chua thường dễ dàng tiêu hóa hơn. - Thúc đẩy hấp thu các chất khác Sữa chua giúp tăng hấp thu canxi và vitamin B cho cơ thể bé. Các axit lactic trong sữa chua hỗ trợ tiêu hóa canxi - khiến cơ thể hấp thụ nguồn canxi trong sữa dễ dàng. Khi nào bé ăn được sữa chua Theo khuyến cáo của Viện Dinh dưỡng quốc gia, bé từ 6 tháng tuổi có thể ăn được sữa chua. Tuy nhiên, nên lưu ý là không cho bé ăn quá nhiều. Mùa đông vẫn có thể cho bé ăn được sữa chua, nhưng nên ngâm sữa chua vào nước nóng để sữa bớt lạnh trước khi cho bé ăn. Lượng sữa chua hợp lý theo độ tuổi Bé từ 6 tháng tuổi trở lên có thể ăn được sữa chua mỗi ngày với “tiêu chuẩn” như sau: - 6-10 tháng: 50g/ngày. - 1-2 tuổi: 80g/ngày. - Trên 2 tuổi: 100g/ngày. Lưu ý khi cho bé ăn sữa chua - Súc miệng ngay sau khi ăn: do các vi khuẩn có lợi trong sữa chua hoạt động rất mạnh nên cũng rất dễ làm hỏng men răng, nhất là răng của bé. - Không dùng chung với các loại thuốc khác: các chất có trong thuốc kháng sinh, hay các loại thuốc có chứa thành phần amin lưu huỳnh cũng có thể làm phá vỡ hoặc tiêu diệt vi khuẩn có lợi trong sữa chua. - Không nên dùng nóng: khi dùng nóng (hoặc cho thêm nước nóng vào sữa chua) sẽ khiến cho vi khuẩn có lợi trong sữa chua mất khả năng hoạt động. Vì vậy, sữa chua sẽ bị mất đi các chất dinh dưỡng và khả năng kích thích tiêu hóa cũng giảm đi đáng kể.
Nhóm thực phẩm trẻ ăn nhiều có hại
Thứ bảy, 10 Tháng 11 2012 09:00
Sai lầm khi xây dựng thực đơn dinh dưỡng cho trẻ có thể dẫn tới hậu quả khôn lường! Đối với trẻ nhỏ, một chế độ dinh dưỡng tốt rất quan trọng đến sự phát triển của trẻ. Việc biết được các thực phẩm, nhóm thực phẩm không nên cho trẻ dùng nhiều sẽ giúp các bà mẹ xây dựng một thực đơn dinh dưỡng tốt nhất cho tương lai của bé. Những thực phẩm có chứa nhiều axit hữu cơ Những thực phẩm có hàm lượng axit hữu cơ rất cao thường gặp là rau cải bó xôi (rau chân vịt), lê, trà. Ngoài ra, trong những thực phẩm này còn có chứa nhiều axit phytic, axit oxalic và nhiều loại axit khác. Cơ thể rất khó hấp thụ những loại axit này vì nó khó tiêu hóa hơn so với những thực phẩm khác. Khi được hấp thụ vào cơ thể, các axit này sẽ hòa tan canxi trong dạ dày, vì thế nếu ăn quá nhiều, bé sẽ rất dễ bị thiếu canxi, thậm chí còn ảnh hưởng đến sự hấp thu kẽm, không có lợi cho sự phát triển xương và răng của trẻ. Nhóm thực phẩm có màu và vị ngọt Kẹo cao su, mì ăn liền và những loại đồ uống có chứa nhiều chất làm ngọt không có lợi cho sức khỏe của trẻ. Trong những loại thực phẩm này thường có chứa hàm lượng hóa chất nhất định, có thể khiến trẻ bị dị ứng thực phẩm hoặc không tốt cho hệ tiêu hóa. Thay vào đó, bạn có thể cho bé ăn các loại hoa quả và trái cây khác như cam, dứa, cà rốt nhưng lưu ý chỉ cho bé ăn vừa phải, không nên ăn nhiều. Bạn cũng nên tránh cho bé ăn những thực phẩm có dùng chất màu tổng hợp. Vì nếu thường xuyên ăn thực phẩm nhuộm màu, trẻ sẽ mất khả năng tự giải độc cơ thể, xuất hiện đầy bụng, rối loạn tiêu hóa… ngoài ra, nếu vào các cơ quan của hệ bài tiết, chất màu có thể gây sỏi trong niệu đạo… Ăn nhiều bánh kẹo, đồ ngọt không tốt cho sức khỏe của trẻ (Ảnh minh họa). Thực phẩm có chứa chất kích thích gây ảnh hưởng tới hệ thần kinh Socola hay nước có ga chính là những loại thực phẩm được liệt vào nhóm này. Hầu hết các loại nước giải khát đều chứa nồng độ cao carbonhydrate, glucose, fructose và sucrose. Khi các vi khuẩn đường miệng kết hợp với chất này sẽ lên men và chuyển thành axit. Các axit này sẽ gây mềm men răng khiến răng bị mài mòn. Do đó, việc tiêu thụ các loại đồ uống này khiến trẻ có nguy cơ sâu răng rất cao. Mặt khác, những thực phẩm trên sẽ gây kích thích tới hệ thống thần kinh khiến nhịp tim của bé đập nhanh, khó ngủ, tâm trạng bất an. Nhân sâm, sữa ong chúa lại là những thực phẩm có chứa thành phần kích thích dậy thì sớm, ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của trẻ. Bài liên quan: Cô giáo bắt con ăn tương ớt? Dạy con ăn theo kiểu… Pháp Cho trẻ ăn: 5 sai lầm phổ biến 'Độc tố' với trẻ trên bàn ăn Nhóm thực phẩm chứa chất bảo quản Thực phẩm chứa chất bảo quản và chứa nhiều phụ gia như cá muối, thịt nướng, bắp rang, bánh pudding… đều là những thực phẩm được khuyến cáo nên hạn chế cho trẻ dùng. Trong quá trình chế biến thức ăn sẵn, những thành phần dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe thường bị hao hụt và các nhà sản xuất thường thêm vào các chất phụ gia, bảo quản khác. Càng nhiều quá trình chế biến thì chất dinh dưỡng càng mất đi nhiều hơn, và lượng đường, muối, chất béo trong thức ăn càng được tăng lên. Mặt khác, những thực phẩm chế biến sẵn thường chứa quá nhiều muối, không tốt cho trẻ. Nhóm thực phẩm chứa nhiều chất béo Thực phẩm chứa nhiều chất béo như trứng, hạt hướng dương, gan… có chứa nhiều cholesterol, khiến khả năng mắc bệnh tim của trẻ tăng cao. Hạt hướng dương lại chứa nhiều axit béo bão hòa, khi ăn vào sẽ gây ảnh hưởng đến chức năng giải độc của tế bào gan. Chế độ ăn của trẻ nên được thay đổi để có được bảng dinh dưỡng cân bằng. Cá, thịt nạc, rong biển, tảo biển, nội tạng, rau tươi, trái cây là những thực phẩm có lợi cho sức khỏe trẻ em.
Những sai lầm nghiêm trọng về dinh dưỡng cho bé
Thứ sáu, 09 Tháng 11 2012 10:52
Sự thiếu hiểu biết về dinh dưỡng khi chăm sóc con có thể gây ra những hiệu quả nghiêm trọng. Ví dụ như việc cho con ăn hoa quả và uống sữa cùng lúc, cho bé uống sữa lúc nửa đêm hoặc cho con chơi những thứ đồ nhỏ, vụn... đều rất dễ khiến trẻ gặp phải những "trục trặc" khó lường. Mẹ cùng Biolife phân tích lý do vì sao không nên thực hiện cùng lúc những hành động trên nhé!
Đọc thêm...Những lưu ý khi chăm trẻ biếng ăn
Thứ sáu, 09 Tháng 11 2012 10:47
Việc tự ý mua “thuốc bổ” với mong muốn nâng cao sức khỏe cho trẻ, giúp trẻ ăn ngon miệng có thể gây ra những tác hại. Cẩn trọng với men tiêu hóa Khoảng 20-30% trẻ đến khám dinh dưỡng do bố mẹ lo lắng về chứng biếng ăn ở trẻ. Trước khi đến khám, nhiều trẻ đã được mẹ cho uống thuốc bổ, uống men tiêu hóa ở nhà. Khi kết quả không khả quan thì mới đem trẻ đến khám. Bế trên tay con gái 18 tháng tuổi, một người mẹ phàn nàn: “Đợt này cháu ăn rất ít, chỉ nửa bát cháo nhỏ. Em đã cho uống hai tuần thuốc bổ, theo đơn cũ bác sĩ kê, nhưng không thấy tình hình cải thiện”. Theo TS Kim Thanh, Giám đốc Trung tâm thông tin - truyền thông và giáo dục, Viện Dinh dưỡng quốc gia, mua men tiêu hóa để tự điều trị cho trẻ biếng ăn, hay rối loạn tiêu hóa đang là lựa chọn của nhiều người lớn. Tuy nhiên việc này có thể dẫn đến tác hại cho tiêu hóa của trẻ. Ảnh minh họa Bản thân cơ thể cũng có hệ thống để sản xuất ra men tiêu hóa giúp quá trình “chế biến” thức ăn đưa vào. Có một số lý do như sau đợt ốm, sau đợt tiêu chảy làm cho các men này bị giảm sút. Tuy nhiên, việc bổ sung men tiêu hóa cần theo hướng dẫn của bác sĩ. Thông thường, việc bổ sung chỉ trong một thời gian ngắn, để bù đắp thiếu hụt tại thời điểm cơ thể trẻ có trục trặc chưa sản xuất đủ. Nếu cứ lạm dụng, cho trẻ uống men tiêu hóa dài ngày, lượng men tiêu hóa được đưa vào thụ động này sẽ khiến bộ phận sản sinh ra men của cơ thể trở nên lười biếng, giảm công suất và dần dần đình đốn. Khi đó, lượng men tiêu hóa sản xuất tự nhiên sẽ thiếu hụt và đẩy cơ thể vào tình thế phụ thuộc vào men tiêu hóa được đưa vào từ bên ngoài. Không tự ý dùng thuốc bổ Thuốc bổ được kê cho trẻ thường có thành phần là các vitamin, vi chất thiết yếu cho cơ thể, tuy nhiên cũng cần được chỉ định. Việc bổ sung không hợp lý sẽ gây thừa vitamin, thừa vi chất. Một số chất do dư thừa có thể tích lũy lại gây ngộ độc, gây tác dụng phụ không mong muốn. “Tốt nhất là bổ sung vitamin, vi chất qua chế độ ăn hằng ngày bằng rau xanh, trái cây, đa dạng hóa nhóm thực phẩm”, TS Kim Thanh cho lời khuyên. Về các nguy cơ liên quan đến thừa vitamin và vi chất, Phó trưởng khoa Dược Bệnh viện Bạch Mai (Hà Nội) Trần Nhân Thắng lưu ý: trẻ em dưới 1 tuổi dùng các sản phẩm thay thế sữa mẹ có bổ sung vitamin D thường xuyên với liều trên 400 UI một ngày, có thể dẫn đến tăng mức can xi máu gây ra trạng thái kích thích, co giật, chậm phát triển trí tuệ. Trường hợp nặng hơn có thể gây suy thận và tử vong. Thừa vitamin A kéo dài ở trẻ em còn để lại hậu quả vĩnh viễn là ngừng phát triển đầu xương, chậm lớn. Thường xuyên dùng quá liều vitamin C có thể gây sỏi thận, giảm sức bền hồng cầu, rút ngắn thời gian đông máu... Vì vậy, sử dụng vitamin và vi chất dinh dưỡng dưới dạng phối hợp phải phân biệt các công thức cho trẻ em dưới 1 tuổi, dưới 4 tuổi và cho người lớn. Theo báo Thanh Niên
Trang 26/38
Hotline
1900.2088